Hai cảng biển nước sâu là Cảng Quốc tế Cái Mép (CMIT) và Cảng Tân Cảng - Cái Mép Thị Vải (TCTT) vừa chính thức đưa bến chung vào khai thác thương mại ngày 09/10/2026, với hệ thống cầu bến liên thông dài 1.200 m.
Mô hình hợp tác này cho phép hai cảng phối hợp tiếp nhận đồng thời 3 tàu container cỡ lớn, tạo thêm dư địa khai thác tại cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải, TP. Hồ Chí Minh.
Điểm khác biệt của mô hình nằm ở cách tổ chức khai thác. Thay vì vận hành hai khu vực cầu bến tách biệt, hai cảng kết nối hạ tầng để hình thành một không gian khai thác liên thông, đồng thời phối hợp bố trí thiết bị, nhân lực và kế hoạch tiếp nhận tàu.
Theo thông tin công bố của hai đơn vị, bến chung có khả năng giúp công suất khai thác tại mỗi cảng tăng khoảng 30 - 40%, tương đương 400.000 - 500.000 TEUs/năm cho mỗi bên. Tổng năng lực bổ sung của hệ thống hai cảng được ước tính gần 900.000 TEUs/năm. Đây là mức công suất dự kiến, không phải sản lượng hàng hóa đã thực tế thông qua sau khi bến chung đi vào hoạt động.
Lợi thế của phương án kết nối xuất phát từ vị trí liền kề và đặc điểm hạ tầng tương đồng giữa hai cảng. Cầu bến có cao trình gần nhau, mép bến thẳng hàng và hệ thống đường ray cẩu bờ có khả năng kết nối, tạo điều kiện để hình thành tuyến cầu bến dài hơn mà không phải xây dựng một cảng hoàn toàn mới.
Trong hoạt động khai thác container, khả năng bố trí tàu và điều phối thiết bị ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất làm hàng. Khi lịch tàu thay đổi hoặc nhiều tàu lớn cập cảng trong cùng thời điểm, không gian khai thác linh hoạt hơn giúp các đơn vị có thêm phương án sắp xếp cầu bến, nhân lực và thiết bị. Việc phối hợp vì vậy không chỉ hướng đến tăng số tàu có thể tiếp nhận, mà còn nhằm cải thiện khả năng tổ chức khai thác trong điều kiện lịch trình vận tải biến động.
Trước khi chính thức vận hành thương mại, hai cảng đã thử nghiệm mô hình bằng chuyến tàu mẹ SHENZHEN của hãng tàu ZIM trong hai ngày 07 - 08/9/2026. Con tàu dài hơn 335 m, trọng tải 102.517 DWT được hai bên phối hợp khai thác, với khoảng 3.200 TEUs hàng hóa và container rỗng được xếp dỡ trong gần một ngày. Tàu rời cảng theo kế hoạch. Kết quả thử nghiệm là bước kiểm chứng quan trọng trước khi mô hình được đưa vào khai thác thường xuyên.
Quá trình hình thành bến chung bắt đầu từ việc mở cổng kết nối nội bộ và ký biên bản ghi nhớ hợp tác ngày 24/5/2024. Hơn hai năm sau, phương án được triển khai thương mại, cho thấy việc kết nối hạ tầng cảng biển không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn đòi hỏi phối hợp về tổ chức vận hành, an toàn hàng hải và điều hành khai thác.
Với các hãng tàu và chủ hàng, giá trị của mô hình sẽ phụ thuộc vào hiệu quả thực tế: thời gian tàu chờ cầu bến, tốc độ xếp dỡ, độ ổn định của lịch trình và khả năng kết nối hàng hóa với các phương thức vận tải khác. Nếu năng lực khai thác được cải thiện đồng thời với chất lượng dịch vụ, bến chung có thể góp phần nâng sức hấp dẫn của khu vực đối với các tuyến vận tải container quốc tế.
Tuy nhiên, công suất thiết kế tăng thêm không đồng nghĩa toàn bộ năng lực bổ sung sẽ lập tức được sử dụng. Hiệu quả kinh tế còn phụ thuộc vào sản lượng hàng hóa, nhu cầu của các hãng tàu, khả năng điều phối giữa hai đơn vị và năng lực kết nối từ cảng đến các khu công nghiệp, trung tâm phân phối, kho bãi và mạng lưới giao thông phía sau cảng.
Do đó, thước đo quan trọng trong giai đoạn vận hành tiếp theo không chỉ là chiều dài cầu bến hay số tàu có thể tiếp nhận cùng lúc. Sản lượng hàng thông qua, năng suất khai thác, thời gian giải phóng tàu và mức độ ổn định của dịch vụ mới là những chỉ số cần theo dõi để đánh giá hiệu quả của phương án hợp tác.
Ông Nguyễn Công Vinh, Phó chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh, nhận định: “CMIT và TCTT là hai cảng lớn tại khu vực cụm cảng biển nước sâu Cái Mép, có những đóng góp quan trọng cho hoạt động xuất nhập khẩu và sự phát triển của TP. Hồ Chí Minh. Vì vậy, việc khai thác bến chung sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho các doanh nghiệp cảng biển, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác và năng lực phục vụ của toàn cụm cảng Cái Mép - Thị Vải”.
Bến chung CMIT - TCTT cũng đặt ra một hướng tiếp cận rộng hơn đối với phát triển hạ tầng logistics: bên cạnh đầu tư xây dựng mới, cần xem xét khả năng liên kết các nguồn lực đang có để nâng hiệu suất sử dụng tài sản. Với những khu vực có các cảng liền kề và điều kiện kỹ thuật phù hợp, phối hợp khai thác có thể tạo thêm dư địa phục vụ thị trường mà không nhất thiết phải mở rộng hạ tầng theo cách riêng lẻ.




Dù gặp nhiều rào cản, niềm tin của doanh nghiệp châu Âu vào tương lai Việt Nam vẫn vững chắc, khi 90% sẵn sàng giới thiệu nơi đây là điểm đến đầu tư...
Với gần 7.300 doanh nghiệp đang hoạt động, thành phố Huế đang đẩy mạnh cải cách hành chính, hỗ trợ tiếp cận nguồn lực và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Qua đó, địa phương hướng tới xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, minh bạch, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Để làm chủ ngành đường sắt, Việt Nam không nhất thiết phải tự làm tất cả, nhưng cần từng bước làm chủ tiêu chuẩn, công nghệ, năng lực kỹ thuật và khả năng phối hợp các hệ thống phức tạp. Mỗi dự án, vì thế, cần trở thành một lần tích lũy năng lực cho những dự án tiếp theo...
Khoảng 4.000 cá nhân bị phản ánh mạo danh để thành lập doanh nghiệp đang đặt ra yêu cầu mới đối với cơ chế đăng ký kinh doanh vốn được thiết kế theo hướng đơn giản hóa thủ tục và tăng quyền tự khai, tự chịu trách nhiệm. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để vẫn duy trì sự thông thoáng nhưng đủ khả năng để bảo vệ thông tin cá nhân…
Không chỉ thiếu nguồn cung, giá vật liệu xây dựng tăng mạnh đang tạo sức ép kép lên các nhà thầu tại Thanh Hóa. Nhiều doanh nghiệp cho biết giá mua thực tế cao gấp nhiều lần mức giá đã ký trong hợp đồng, tiềm ẩn nguy cơ thua lỗ và chậm tiến độ...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.