Giai đoạn 1954-1965 đánh dấu những bước phát triển đầu tiên của công nghiệp Hà Nội trong quá trình xây dựng kinh tế miền Bắc. Với sự hỗ trợ của các nước xã hội chủ nghĩa, thành phố từng bước hình thành các khu công nghiệp tập trung tại Thượng Đình, Minh Khai, Trương Định và Đông Anh. Nhiều nhà máy quan trọng được xây dựng, đi vào hoạt động, như Cơ khí Hà Nội, Dệt 8/3, Cao su Sao Vàng, Xà phòng Hà Nội, Thuốc lá Thăng Long và Bóng đèn Phích nước Rạng Đông. Các cơ sở này góp phần cung ứng tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng, đồng thời hình thành đội ngũ công nhân công nghiệp, tạo nền tảng cho quá trình phát triển sản xuất của Thủ đô.
Trong giai đoạn 1965-1975, khi chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ diễn ra ác liệt, công nghiệp Hà Nội phải đối mặt với nhiều khó khăn. Công nhân vừa duy trì sản xuất, vừa tham gia chiến đấu và bảo vệ cơ sở công nghiệp. Nhiều nhà máy, xí nghiệp tổ chức sơ tán máy móc, thiết bị về các địa phương để duy trì hoạt động, bảo đảm nguồn cung hàng hóa và vật tư phục vụ sản xuất, chiến đấu. Trong điều kiện chiến tranh, các cơ sở cơ khí, dệt may, hóa chất cùng nhiều ngành sản xuất khác nỗ lực duy trì hoạt động, đóng góp vào nhiệm vụ chi viện tiền tuyến.
Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, công nghiệp Hà Nội bước vào giai đoạn nhiều khó khăn do cơ chế quản lý tập trung, bao cấp và những hạn chế về nguồn cung vật tư, nguyên liệu. Trong bối cảnh đó, các cơ sở sản xuất vẫn nỗ lực duy trì hoạt động, đáp ứng một phần nhu cầu vật tư kỹ thuật và hàng hóa thiết yếu cho nền kinh tế.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 mở ra bước ngoặt với đường lối Đổi mới, từng bước chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình đổi mới cơ chế quản lý tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia sản xuất, kinh doanh, đồng thời mở rộng thu hút đầu tư nước ngoài.
Tại Hà Nội, các khu công nghiệp như Sài Đồng B, Nội Bài và Khu công nghiệp Thăng Long từng bước được hình thành, thu hút doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có các nhà đầu tư hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và công nghệ. Qua đó, công nghiệp Thủ đô có thêm nguồn lực về vốn, công nghệ, phương thức quản trị và cơ hội tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất quốc tế.
Ngày 1/8/2008, Nghị quyết số 15/2008/QH12 của Quốc hội về điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan chính thức có hiệu lực. Theo đó, Hà Nội được mở rộng trên cơ sở hợp nhất toàn bộ tỉnh Hà Tây, tiếp nhận toàn bộ huyện Mê Linh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc và bốn xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Sau điều chỉnh, diện tích tự nhiên của Thủ đô đạt hơn 3.344 km2. Sự kiện này mở rộng không gian quy hoạch, tạo thêm dư địa phát triển công nghiệp và tăng cường kết nối giữa khu vực đô thị với các địa bàn có thế mạnh về sản xuất, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống.
Bước vào giai đoạn phát triển mới, công nghiệp Hà Nội từng bước chuyển từ mô hình dựa nhiều vào mở rộng quy mô sang chú trọng chất lượng, hiệu quả và hàm lượng công nghệ. Thành phố đẩy mạnh di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu vực nội đô, đồng thời định hướng phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch và công nghiệp hỗ trợ. Khu công nghệ cao Hòa Lạc được kỳ vọng trở thành một trong những không gian quan trọng thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện phát triển các lĩnh vực mới như bán dẫn và trí tuệ nhân tạo.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh ngày càng trở thành yêu cầu cấp thiết, Hà Nội đang định hướng phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, gắn với quy hoạch không gian đô thị và nâng cao năng lực cạnh tranh. Cùng với Luật Thủ đô (sửa đổi), có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, Quy hoạch Thủ đô thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt tại Quyết định số 1569/QĐ-TTg và Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm là những cơ sở quan trọng để định hình không gian, tạo động lực và mở rộng dư địa phát triển công nghiệp Thủ đô trong giai đoạn tới.
Nền tảng nội lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ đang tạo đà cho công nghiệp Thủ đô bứt phá trong năm 2026. Trong bối cảnh rủi ro địa chính trị và chuỗi cung ứng toàn cầu còn nhiều biến động, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của Hà Nội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Theo số liệu báo cáo của Cục Thống kê thành phố Hà Nội, tháng 9/2026, IIP ước tăng 9,9% so với cùng kỳ; quý 3/2026 tăng 9,3%; lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 9,0% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là mức tăng cao nhất trong 9 tháng của gần một thập kỷ qua, cho thấy sự phục hồi tích cực của sản xuất công nghiệp, góp phần tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế Thủ đô.
Trong bức tranh chung, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ lực. Nhờ sự gia tăng của các đơn hàng xuất khẩu cùng sức tiêu dùng nội địa ổn định, IIP ngành chế biến, chế tạo tháng 9/2026 tăng 9,8% so với cùng kỳ; quý 3/2026 tăng 9,2%; lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước.
Động lực tăng trưởng đến từ nhiều ngành sản xuất chủ lực. Trong 9 tháng năm 2026, sản xuất linh kiện điện tử, máy tính tăng 18,5%, riêng quý 3 tăng 20,6% và tháng 9 tăng 19,6%. Sản xuất kim loại và sản phẩm từ cao su, plastic cùng tăng 15,0%; sản xuất phương tiện vận tải tăng 12,8%, riêng tháng 9 tăng 21,6%; sản phẩm khoáng phi kim loại tăng 12,7%; đồ uống tăng 12,3%; thiết bị điện tăng 10,8% và giấy tăng 10,3%.
Bên cạnh những kết quả tích cực, một số ngành công nghiệp vẫn đối mặt với khó khăn. Theo ghi nhận của Cục Thống kê thành phố, trong 9 tháng năm 2026, có 2/23 ngành công nghiệp cấp II thuộc lĩnh vực chế biến, chế tạo giảm so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 4,3%, riêng tháng 9 giảm 2,6%; sản xuất trang phục giảm 0,7%, tháng 9 giảm 2,8%. Riêng trong tháng 9/2026, sản xuất xe có động cơ giảm nhẹ 0,6%.
Diễn biến này cho thấy đà phục hồi giữa các ngành chưa đồng đều, đặt ra yêu cầu doanh nghiệp tiếp tục cơ cấu lại sản phẩm, nâng cao khả năng thích ứng với các tiêu chuẩn xanh và chủ động mở rộng thị trường, nhất là trong bối cảnh sức mua tại một số thị trường xuất khẩu còn chịu áp lực.
Cùng với công nghiệp chế biến, chế tạo, ngành khai khoáng cũng duy trì đà tăng trưởng tích cực. Cụ thể, IIP ngành khai khoáng tháng 9/2026 tăng 6,3% so với cùng kỳ; quý 3/2026 tăng 10,3%; lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước.
Động lực tăng trưởng của ngành đến từ nhu cầu vật liệu phục vụ xây dựng khi nhiều công trình, dự án trọng điểm, công trình cầu đường và nhà ở dân cư trên địa bàn thành phố được đẩy nhanh tiến độ. Hoạt động xây dựng gia tăng tạo tác động trực tiếp đến ngành khai khoáng, chủ yếu là khai thác vật liệu xây dựng như đá, cát, sỏi, cát san lấp và đất sét phục vụ sản xuất gạch, ngói, góp phần đáp ứng nhu cầu vật liệu cho các công trình.
Ở nhóm sản xuất và phân phối các dịch vụ tiện ích, diễn biến sản xuất điện phản ánh tác động của yếu tố mùa vụ. Trong tháng 9/2026, ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 7,1% so với tháng trước do thời tiết chuyển sang thu, nhu cầu làm mát giảm. Tuy nhiên, so với tháng 9/2025, chỉ số của ngành vẫn tăng 9,6%; lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 9,5%, góp phần bảo đảm nguồn điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
Trong khi đó, ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tiếp tục ghi nhận kết quả khả quan. Tháng 9/2026, IIP của ngành tăng 3,6% so với tháng trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ; lũy kế 9 tháng tăng 9,4%.
Sức bật của sản xuất công nghiệp trong 9 tháng năm 2026 còn được hỗ trợ bởi sự cải thiện của hoạt động tiêu thụ. Theo báo cáo của Cục Thống kê thành phố, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo ước tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước. Nhiều nhóm hàng ghi nhận mức tăng đáng chú ý, trong đó thiết bị điện tăng 97,5%; linh kiện điện tử, máy tính tăng 24,2%; phương tiện vận tải tăng 21,1%; xe có động cơ tăng 14,9%; sản phẩm cao su và plastic tăng 13,2%; đồ uống tăng 12,7%; dược phẩm tăng 12,0% và máy móc, thiết bị tăng 10,8%.
Cùng với sự gia tăng của tiêu thụ, chỉ số tồn kho cuối tháng 9/2026 tăng 26,5% so với cùng kỳ. Một số ngành ghi nhận mức tồn kho tăng mạnh, như giấy gấp 4,5 lần; thiết bị điện gấp 3,0 lần; dược phẩm gấp 2,6 lần; sản phẩm điện tử tăng 70,7% và đồ uống tăng 68,8%. Diễn biến này có thể gắn với việc doanh nghiệp chuẩn bị nguồn hàng phục vụ các đơn hàng xuất khẩu và mùa mua sắm cuối năm. Tuy nhiên, việc theo dõi sát diễn biến tiêu thụ và tồn kho vẫn cần thiết để doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, bảo đảm cân đối cung cầu.
Hoạt động sản xuất mở rộng cũng tác động tích cực đến thị trường lao động. Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp 9 tháng năm 2026 tăng 0,8% so với cùng kỳ; riêng tháng 9 tăng 1,1%. Trong đó, doanh nghiệp nhà nước tăng 3,1%, doanh nghiệp FDI tăng 2,2%, bù đắp cho mức giảm 2,2% của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Nhu cầu lao động tăng ở một số ngành, nổi bật là hóa chất tăng 26,2%; kim loại tăng 12,9%; thiết bị điện tăng 9,8% và sản phẩm khoáng phi kim loại tăng 7,0%.
Nhìn lại hơn bảy thập kỷ kể từ ngày tiếp quản Thủ đô năm 1954, công nghiệp Hà Nội đã trải qua quá trình chuyển đổi sâu sắc, từ những cơ sở sản xuất ban đầu đến hệ thống ngành công nghiệp ngày càng đa dạng và hiện đại. Kết quả tăng trưởng IIP trong 9 tháng năm 2026 tạo nền tảng tích cực để Thủ đô tiếp tục thực hiện các mục tiêu kinh tế cả năm, đồng thời đặt ra yêu cầu duy trì đà tăng trưởng, nâng cao chất lượng sản xuất và tăng cường năng lực cạnh tranh trong giai đoạn phát triển mới.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, TS. Lương Quang Huy, Trưởng phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng ozone, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh rằng kiểm kê khí nhà kính không chỉ là nghĩa vụ tuân thủ đơn thuần với các doanh nghiệp, mà đã trở thành nền tảng cạnh tranh trong bối cảnh yêu cầu tiêu chuẩn xanh, giảm phát thải, ESG… của các thị trường, đối tác quốc tế ngày càng khắt khe.
Trong cuộc trả lời phỏng vấn Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, TS.Hà Văn Siêu, Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, khẳng định thước đo của một điểm đến không chỉ nằm ở số lượng du khách, mà còn ở thời gian họ lưu trú, mức chi tiêu và giá trị để lại cho nền kinh tế. Với Việt Nam, bài toán nâng chất lượng du lịch vì thế không đơn thuần là phát triển thêm những sản phẩm cao cấp, mà là xây dựng một hệ sinh thái đủ sức kéo dài hành trình, mở rộng trải nghiệm và đưa nhiều hơn dòng tiền du lịch vào doanh nghiệp, địa phương và cộng đồng...
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng GDP 9 tháng năm 2026 đạt mức ấn tượng (9,01%) trong bối cảnh toàn cầu còn nhiều biến động. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng trên 10% cả năm do Quốc hội đề ra, nhiệm vụ đặt ra cho quý 4/2026 là vô cùng lớn với mục tiêu tăng trưởng lên tới 12,5%. Cùng với đó là những thách thức không nhỏ từ lạm phát, tỷ giá và trạng thái nhập siêu của cán cân thương mại.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Tuyệt đối không để nền kinh tế thiếu điện và thiếu xăng dầu, đó là khẳng định từ Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi. Kịch bản tăng trưởng kinh tế 3 tháng cuối năm cũng được xác định rõ để từng bộ, từng địa phương đều hoàn thành kế hoạch của cả năm, đưa kinh tế cả nước đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.