Ngày 18/2/2025, nội các Nhật Bản đã phê duyệt Kế hoạch năng lượng cơ bản, trong đó nhấn mạnh năng lượng hạt nhân và năng lượng tái tạo là nguồn năng lượng không phát thải carbon chính để đảm bảo an ninh năng lượng trong tương lai và đạt được mức phát thải ròng bằng 0.
Chính phủ Nhật Bản sửa đổi Kế hoạch năng lượng của mình khoảng ba năm một lần. Kế hoạch được xây dựng dựa trên Luật Chính sách Năng lượng cơ bản được ban hành vào tháng 6/2002.
Kế hoạch mới nhất, giống như các kế hoạch trước đó, thừa nhận sự cần thiết của an ninh năng lượng đối với quốc gia vốn hạn chế tài nguyên nhiên liệu hóa thạch. Chính sách này bao gồm các cam kết về các sáng kiến "năng lượng sạch" nhưng nhấn mạnh vào việc đảm bảo nguồn cung cấp năng lượng ổn định và an toàn.
Kế hoạch Năng lượng cơ bản lần thứ 7 này đặt mục tiêu năng lượng hạt nhân sẽ chiếm khoảng 20% tổng sản lượng năng lượng của cả nước trong năm tài chính 2040, gần bằng mức mục tiêu năm tài chính 2030 là 20-22% và tăng từ 8,5% trong năm tài chính 2023.
Do nhu cầu điện dự kiến sẽ tăng lên tối đa 1,2 nghìn tỷ KW/giờ do sự phổ biến của trí tuệ nhân tạo và các trung tâm dữ liệu, Chính phủ Nhật Bản đặt mục tiêu đáp ứng nhu cầu cao bằng cách nới lỏng các yêu cầu thay thế lò phản ứng cũ bằng lò phản ứng mới.
Các nguồn năng lượng tái tạo dự kiến sẽ chiếm khoảng 40- 50% tổng sản lượng năng lượng của Nhật Bản trong năm tài chính 2040, gần gấp đôi mức 22,9% được ghi nhận trong năm tài chính 2023. Nhiệt điện dự kiến sẽ giảm mạnh từ 68,6% xuống còn khoảng 30- 40%.
Trước cuộc khủng hoảng Fukushima năm 2011, 54 lò phản ứng của Nhật Bản đã cung cấp khoảng 30% điện năng của cả nước. Tuy nhiên, trong vòng 14 tháng sau đó, sản lượng điện hạt nhân của đất nước đã bị đình trệ do chờ thay đổi về quy định.
Kể từ đó, 14 lò phản ứng đã dần hoạt động trở lại. Chính sách của đất nước kể từ năm 2014 là giảm sự phụ thuộc vào năng lượng hạt nhân càng nhiều càng tốt.
Kế hoạch năng lượng mới đánh dấu sự thay đổi so với quyết tâm trước đó của chính phủ là giảm thiểu sự phụ thuộc vào năng lượng hạt nhân sau cuộc khủng hoảng Fukushima năm 2011.
Để đạt được 20% thị phần điện hạt nhân vào năm tài chính 2040, phần lớn trong số 36 lò phản ứng hạt nhân có thể hoạt động của Nhật Bản, bao gồm cả những lò hiện đang được xây dựng sẽ phải đi vào hoạt động.
"Hiện tại, tại các khu vực Kyushu và Kansai, nơi các nhà máy điện hạt nhân đang được khởi động lại, tỷ lệ các nguồn năng lượng không phát thải carbon cao và giá điện thấp hơn tới 30% so với các khu vực khác", kế hoạch lưu ý. "Ngoài ra, lợi ích của việc khởi động lại các nhà máy điện hạt nhân đang được chuyển cho người tiêu dùng dưới hình thức giá điện thấp hơn...."
Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Yoji Muto nhấn mạnh sự cần thiết đầu tư hai nguồn năng lượng "carbon-free" (không phát thải CO2 hoặc các khí nhà kính khác trong quá trình sử dụng) để đạt mục tiêu giảm phát thải. "Ở nhiều quốc gia, bao gồm cả Mỹ, các khoản đầu tư quy mô lớn vào nguồn năng lượng khử carbon đang được triển khai", ông cho biết.
Vào tháng 2/2023, Nội các Nhật Bản cũng đã phê duyệt chính sách cho phép xây dựng các lò phản ứng điện hạt nhân mới và kéo dài thời gian hoạt động của các lò phản ứng hiện có từ 40 năm lên 60 năm.
Theo Kế hoạch, để đảm bảo các nguồn điện không phát thải carbon cần thiết cho tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống của người dân vào năm 2040 và sau đó, cần phải tính đến thực tế là cần có thời gian chuẩn bị khá dài, khoảng 10- 20 năm.
Chính phủ Nhật Bản cho biết sẽ tiến hành triển khai cụ thể các lò phản ứng cải tiến thế hệ tiếp theo tại các địa điểm của các nhà khai thác đã quyết định ngừng hoạt động các nhà máy điện hạt nhân (chỉ khi các nhà khai thác đóng góp vào việc duy trì và phát triển các ngành công nghiệp và việc làm tại địa phương).
Bên cạnh đó, cũng cần tiếp tục phát triển công nghệ hướng tới ứng dụng thực tế của các lò phản ứng cải tiến thế hệ tiếp theo khác, chẳng hạn như lò phản ứng nhanh, lò phản ứng khí nhiệt độ cao và năng lượng nhiệt hạch.
Nhật Bản đặt mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính 60% vào năm tài chính 2035 và 73% vào năm tài chính 2040 so với mức của năm tài chính 2013 (kết thúc vào tháng 3/2014). Nước này cam kết trung hòa carbon (Net Zero) vào năm 2050.




Tài chính xanh không chỉ là một xu hướng mà đã trở thành động lực chiến lược quyết định năng lực cạnh tranh và triển vọng phát triển dài hạn của quốc gia. Các chính sách tài chính xanh được kỳ vọng sẽ tạo ra những cơ hội mới cho doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế....
UBND tỉnh Ninh Bình vừa tổ chức Hội thảo quốc tế đánh giá các giá trị nổi bật toàn cầu và thảo luận định hướng xây dựng Hồ sơ đề cử Di sản thế giới cho khu Cảnh quan văn hóa - sinh thái Voọc mông trắng Vân Long - Kim Bảng - Tam Chúc...
Khi các nhà đầu tư quốc tế ngày càng ưu tiên tiêu chí phát triển bền vững, lợi thế của khu công nghiệp không còn chỉ nằm ở quỹ đất hay giá thuê, mà được quyết định bởi chất lượng hạ tầng, năng lực vận hành và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn ESG...
TP.Hồ Chí Minh sẽ triển khai hệ thống giám sát và đánh giá các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn thông qua bộ chỉ số cụ thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực, từ tài nguyên nước, hạ tầng đô thị, y tế, giao thông đến nguồn lực đầu tư và nâng cao nhận thức cộng đồng...
Smart Green Living Week 2026 với sự tham gia của hơn 50 doanh nghiệp, startup và dự án đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực vật liệu xanh, kiến trúc, smart home, IoT, ESG, công nghệ môi trường, năng lượng sạch và kinh tế tuần hoàn…
Luật Công nghiệp công nghệ số đã mở rộng phạm vi nhân lực công nghệ số chất lượng cao, không chỉ bao gồm người Việt Nam (cả trong và ngoài nước) mà còn cả chuyên gia nước ngoài đáp ứng các tiêu chí do Chính phủ Việt Nam quy định. Để thu hút lực lượng này, luật đưa ra hàng loạt chính sách ưu đãi...
Trong bối cảnh nông nghiệp tuần hoàn và sản xuất hữu cơ trở thành xu hướng, mô hình luân canh tôm càng xanh - lúa tại Thanh Hóa đang cho thấy hiệu quả kép: nâng giá trị trên cùng diện tích đất, giảm chi phí sản xuất và mở ra hướng phát triển bền vững cho vùng chiêm trũng.