
Ngân hàng Nhà nước vừa lên kế hoạch hành động với 9 nhóm biện pháp để triển khai hiệu quả chính sách tiền tệ trong thời gian tới.
Ngày 19/2, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu đã ban hành “Kế hoạch hành động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” để triển khai kịp thời, có hiệu quả các giải pháp về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng.
Theo kế hoạch hành động này, Thống đốc yêu cầu các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tập trung thực hiện 9 nhóm biện pháp trong thời gian tới.
Thứ nhất là mở rộng tín dụng có hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật, áp dụng lãi suất hợp lý, xử lý các vướng mắc về trả nợ vay và tiếp cận tín dụng ngân hàng của tổ chức, cá nhân.
Các đầu mối thuộc Ngân hàng Nhà nước sẽ rà soát, đề xuất việc sửa đổi các cơ chế cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, bao thanh toán, ủy thác và các cơ chế cấp tín dụng khác để tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.
Nhà điều hành hệ thống ngân hàng cũng sẽ phối hợp với Bộ Tài chính ban hành và triển khai cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện; ban hành chỉ thị về thực hiện các biện pháp nhằm góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hoá, ngăn chặn suy giảm kinh tế; tập trung xử lý các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động tín dụng…
Thứ hai là tiếp tục đổi mới chính sách và mở rộng tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn; tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước sẽ trình Chính phủ ban hành nghị định về chính sách tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, bao gồm cả tín dụng quy mô nhỏ, theo hướng khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng và các định chế tài chính ở trong và ngoài nước mở rộng tín dụng đối với nhưng khu vực này.
Các tổ chức tín dụng cũng sẽ mở rộng và áp dụng lãi suất cho vay hợp lý theo chính sách khách hàng của mình; cơ cấu lại thời hạn trả nợ và tiếp tục cho vay mới đáp ứng vốn cho sản xuất, kinh doanh có hiệu quả đối với các doanh nghiệp, hộ sản xuất ở khu vực nông nghiệp, nông thôn; xây dựng và triển khai cơ chế tín dụng đối với 61 huyện nghèo theo phương thức ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay tại ngân hàng thương mại nhà nước; cơ chế và thủ tục cho vay đối với hộ nghèo, học sinh sinh viên và các đối tượng chính sách khác dự kiến cũng sẽ được ra soát và chỉnh sửa…
Thứ ba, các đầu mối sẽ tiếp tục đề xuất và tổ chức thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất và huy động nguồn vốn cho các dự án kích cầu đầu tư. Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạo các ngân hàng thương mại cân đối vốn kinh doanh để bố trí vốn giải ngân cho các hợp đồng tín dụng đã ký kết cho các dự án lớn, trọng điểm quốc gia, các dự án đầu tư theo chủ trương kích cầu đầu tư, cũng như mua trái phiếu Chính phủ với mục đích đầu tư cho các dự án kích cầu.
Thứ tư, các công cụ lãi suất, tỷ giá sẽ tiếp tục được điều hành linh hoạt, thận trọng, phù hợp với mục tiêu kích cầu, khuyến khích sản xuất, xuất khẩu, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hệ thống; các cơ chế khác như dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở, hoán đổi tiền tệ cũng sẽ được rà soát để sửa đổi, bổ sung.
Trong thời gian tới, các đầu mối liên qua sẽ tổ chức thống kê và dự báo các luồng tiền tệ liên quan đến việc vay và trả nợ nước ngoài; phối hợp với Bộ Công thương kiểm soát chặt chẽ cán cân thương mại; thiết lập hệ thống cảnh báo sớm về rủi ro vay nợ nước ngoài của khu vực doanh nghiệp.
Đáng chú ý là Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ chính thức ban hành và tổ chức thực hiện cơ chế quản lý, kiểm tra và giám sát các sàn giao dịch vàng. Tuy nhiên thời điểm cụ thể vẫn chưa xác định.
Thứ năm là tăng cường thanh tra, giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. Trong đó, quy chế cấp giấy phép và thành lập ngân hàng thương mại cổ phần tiếp tục được nghiên cứu chỉnh sửa.
Ngoài ra, những biện pháp còn lại được Ngân hàng Nhà nước đặt ra để điều hành và thực hiện hiệu quả chính sách tiền tệ thời gian tới là nâng cao chất lượng công tác thống kê, phân tích và dự báo; nâng cao chất lượng và mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt; tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng; và cuối cùng là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thông tin trong hệ thống ngân hàng.




Từ đầu năm đến nay, bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp và tác động mạnh đến Việt Nam, đặc biệt là điều hành chính sách tiền tệ. Sự kiên định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc giữ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, không gây áp lực lên hệ thống ngân hàng; kết hợp hài hòa giữa tài khóa và tiền tệ, đã cho thấy cách tiếp cận vấn đề một cách phù hợp. Trong buổi làm việc với các ngân hàng thương mại ngày 13/8, Thủ tướng Lê Minh Hưng ghi nhận thành công của hoạt động điều hành chính sách tiền tệ; đồng thời cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với ngành ngân hàng trong những tháng cuối năm.
Việc tiền gửi liên tục lập “kỷ lục” một phần do đây là số dư tích lũy qua nhiều kỳ, trong đó có phần lãi nhập gốc, chứ không đồng nghĩa người dân vừa đưa một lượng tiền mới tương ứng vào hệ thống ngân hàng…
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước thường xuyên đánh giá “điểm cân bằng” giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, điều hành các công cụ chính sách chủ động, linh hoạt, đúng thời điểm, đúng liều lượng...
Từ đầu năm 2026 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã triển khai 618 cuộc thanh tra, ban hành kết luận đối với 438 cuộc, qua đó phát hiện tổng số tiền vi phạm về kinh tế là 562.468 tỷ đồng...
Ngân hàng Nhà nước cho biết đến cuối tháng 6/2026, dư nợ cấp tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản của hệ thống tổ chức tín dụng đạt 5,146 triệu tỷ đồng, tăng 8,3% so với cuối năm 2025 và chiếm 25,5% tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế; nợ xấu tăng 10,5%...
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Trong nhiều năm, khi nói đến tăng trưởng kinh tế, Việt Nam thường đặt trọng tâm vào ba động lực truyền thống: xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, dư địa tăng trưởng của các động lực cũ đang dần thu hẹp, buộc Việt Nam phải tìm kiếm những ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao hơn, ít phụ thuộc vào tài nguyên và có khả năng tạo ra nguồn thu ngoại tệ bền vững.