
Ngân hàng Quốc tế (VIB) vừa thực hiện việc công khai lãi suất cho vay và niêm yết mức trần cụ thể với từng nhóm đối tượng, một sự kiện
tạo ra tiền lệ trong hệ thống ngân hàng thương mại.
Theo biểu áp dụng trên toàn hệ thống VIB, các mức trần lãi suất cho vay VND đã được ấn định và sẽ được cập nhật khi có điều chỉnh. Mức trần thấp nhất là 12,99%/năm đối với cho vay cầm cố giấy tờ có giá, mức trần cao nhất là 16,29%/năm với cho vay đầu tư chứng khoán…
Chính sách trên áp dụng cho các khách hàng cá nhân. Với họ, lợi ích là rõ ràng. Căn theo nhóm nhu cầu vay vốn để chủ động chi phí, xây dựng phương án vay và sử dụng vốn. Cũng lưu ý rằng, mức trần công bố là chi phí tối đa, còn thực tế họ có thể tiếp cận các mức lãi suất thấp hơn nữa, như hiện tại VIB đang áp chỉ 9,9%/năm trong 3 tháng đầu của khoản vay mới đối với khách vay mua nhà hay cá nhân kinh doanh.
Các mức trần công bố như vậy cũng hàm ý rằng, ngân hàng chủ động áp dụng và khách hàng sẽ không phải lo ngại các chi phí phát sinh khác - điều thường đi cùng với một cơ chế trần thụ động. Như trước đây, cơ chế áp một mức trần lãi suất cho vay chung cho mọi đối tượng, cho mọi ngân hàng đã dẫn đến những bất cập về các loại phí “lách luật”.
Và không chỉ riêng khách hàng của VIB, các nhu cầu vay vốn tại các nhà băng khác cũng có thể tham khảo những mức trần trên để quyết định lựa chọn, nhất là khi cạnh tranh ở lãi suất cho vay đang thể hiện. Hay nói cách khác, cơ chế trần lãi suất cho vay của VIB đã tạo một vùng tham chiếu cho thị trường: tại các thời điểm khác nhau, đó là mức chi phí cao nhất người vay có thể phải chịu, mà theo VIB là hợp lý.
Về phía ngân hàng, lợi ích cũng là rõ ràng. Thông tin lãi suất minh bạch, khách hàng biết được khả năng chi phí tối đa để yên tâm vay vốn, thay vì phấp phỏng chờ kết quả ấn định như thường thấy. Đây là sức hút mới của VIB, mà thực tế là chỉ trong hơn 10 ngày qua, lượng khách cá nhân tới tìm hiểu đã tăng gấp 6 lần so với cả tháng trước đó.
Nhưng quan trọng hơn, ngân hàng đã xác định một giới hạn tối đa cho toàn hệ thống, qua đó để định hướng chính sách khách hàng, gắn với yêu cầu quản trị rủi ro.
Trong hoạt động cho vay, khách hàng có mức độ rủi ro càng cao thì lãi suất áp càng cao. Các mức trần mà VIB xác định đồng nghĩa với việc giới hạn mức độ rủi ro mà họ có thể chấp nhận. Theo đó, có thể xem đây là một hướng phòng vệ, khi mà thực tế đã cho thấy những mức lãi suất cho vay quá cao trong hơn một năm trước là một yếu tố góp phần dồn đẩy nợ xấu tại nhiều ngân hàng hiện nay.
Tự áp trần lãi suất cho vay, VIB đã tạo ra một tiền lệ trong hệ thống, nhưng quan trọng hơn là tiền lệ cho chính mình. Chính sách phát triển khách hàng theo đó đã được khoanh vùng, hướng về chiều sâu chất lượng với những khách hàng đáp ứng được giới hạn rủi ro đã xác định qua các mức trần lãi suất.
Ở cả hai phía, khách hàng và ngân hàng, những giá trị và lợi ích như vậy trong “sự kiện VIB” là có thể nhân rộng cho hệ thống các tổ chức tín dụng nói chung.
Một sự trùng hợp là, cuối tuần qua, trong thông cáo về phiên họp thường kỳ tháng 11/2012, Chính phủ cũng đã gợi mở về việc xem xét áp trần lãi suất cho vay, tiếp tục giảm lãi suất hỗ trợ doanh nghiệp. Việc triển khai cụ thể dự kiến cũng sẽ sớm được Ngân hàng Nhà nước công bố.




Từ đầu năm đến nay, bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp và tác động mạnh đến Việt Nam, đặc biệt là điều hành chính sách tiền tệ. Sự kiên định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc giữ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, không gây áp lực lên hệ thống ngân hàng; kết hợp hài hòa giữa tài khóa và tiền tệ, đã cho thấy cách tiếp cận vấn đề một cách phù hợp. Trong buổi làm việc với các ngân hàng thương mại ngày 13/8, Thủ tướng Lê Minh Hưng ghi nhận thành công của hoạt động điều hành chính sách tiền tệ; đồng thời cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với ngành ngân hàng trong những tháng cuối năm.
Việc tiền gửi liên tục lập “kỷ lục” một phần do đây là số dư tích lũy qua nhiều kỳ, trong đó có phần lãi nhập gốc, chứ không đồng nghĩa người dân vừa đưa một lượng tiền mới tương ứng vào hệ thống ngân hàng…
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước thường xuyên đánh giá “điểm cân bằng” giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, điều hành các công cụ chính sách chủ động, linh hoạt, đúng thời điểm, đúng liều lượng...
Từ đầu năm 2026 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã triển khai 618 cuộc thanh tra, ban hành kết luận đối với 438 cuộc, qua đó phát hiện tổng số tiền vi phạm về kinh tế là 562.468 tỷ đồng...
Ngân hàng Nhà nước cho biết đến cuối tháng 6/2026, dư nợ cấp tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản của hệ thống tổ chức tín dụng đạt 5,146 triệu tỷ đồng, tăng 8,3% so với cuối năm 2025 và chiếm 25,5% tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế; nợ xấu tăng 10,5%...
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Trong nhiều năm, khi nói đến tăng trưởng kinh tế, Việt Nam thường đặt trọng tâm vào ba động lực truyền thống: xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, dư địa tăng trưởng của các động lực cũ đang dần thu hẹp, buộc Việt Nam phải tìm kiếm những ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao hơn, ít phụ thuộc vào tài nguyên và có khả năng tạo ra nguồn thu ngoại tệ bền vững.