18/10/2022, 19:16
Một trong những nhiệm vụ gần đây mà Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đặt ra cho Ngân hàng Nhà nước nói riêng và ngành ngân hàng nói chung là: "Tăng lãi suất huy động nhưng cố gắng giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay".
Dưới góc nhìn của TS. Trương Văn Phước, nguyên Quyền Chủ tịch Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia, đây lại là một nhiệm vụ mà ngành ngân hàng cần cố gắng làm trong thời điểm hiện tại, mặc dù đây là thách thức rất lớn.
Theo ông Phước, đây không phải đơn giản về vấn đề tài chính, lợi nhuận mà là phạm trù khác, liên quan đến sự chia sẻ của các tổ chức tín dụng trong một mục tiêu lớn của đất nước là ổn định kinh tế vĩ mô.
Ngoài ra, cũng theo vị chuyên gia này, nếu chênh lệch lãi suất cho vay và huy động thấp xuống thì tất yếu lợi nhuận hệ thống ngân hàng thương mại thấp xuống. Điều này gây ra 2 hệ quả là sụt giảm lương của cán bộ nhân viên hệ thống ngân hàng thương mại và cổ tức của các cổ đông đầu tư vào hệ thống ngân hàng cũng thấp xuống.
Đây là những cái mất mát không nhỏ mà người làm ngân hàng thì phải gánh chịu nhưng sẽ được bù đắp bằng cái được trong tương lai.
Phải thấy rằng nếu lãi suất cho vay tăng nhanh, đồng nghĩa doanh nghiệp phải đi vay với chi phí cao và hoạt động của họ khó khăn lên. Có thể đây là một trong những nguyên nhân khiến doanh nghiệp không thể trả được vốn vay.
Bài học cho vấn đề này đã được minh chứng rất rõ trong giai đoạn 2008 và 2009. Lãi suất cho vay cao để lại hậu quả là các doanh nghiệp không có khả năng trả vốn. Kéo theo tình hình nợ xấu hệ thống ngân hàng tăng đột biến ở những năm 2012 và vài sau đó.
"Vậy thì phải nói một điều, chúng ta cần nhìn vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau để chia sẻ khó khăn. Sự chia sẻ đó cũng như một loại vaccine để ngừa bất trắc để xảy ra cho hệ thống ngân hàng khi mà mặt bằng lãi suất cho vay bị đẩy lên cao", ông Phước nói.
Cũng theo ông Phước, việc kìm hãm đà lên của lãi suất cho vay sẽ được nhà quản lý tiền tệ tạo ra những lợi ích khác, chẳng hạn việc tái cấp vốn lãi suất thấp. Nguồn vốn này sẽ hoà với các dòng vốn đang có để hạ thấp chi phí vốn. Mức hạ thấp có thể không tương xứng với phần lợi nhuận bị mất đi nhưng cũng mang tính chất động viên cho các ngân hàng thương mại.
"Thực tế hệ thống ngân hàng đã có kinh nghiệm mấy chục năm nay. Cũng đã từng trái qua thời khắc sự hy sinh lợi nhuận để hỗ trợ người vay tiền. Do đó, tôi tin rằng hệ thống sẽ có cách để ổn định lãi suất cho vay. Ổn định ở đây là tăng không quá nhiều", ông Phước nói.
Nói thêm về việc tăng lãi suất điều hành vừa qua của Ngân hàng Nhà nước, ông Phước cho hay, không thể lấy con số tăng tuyệt đối 1% của Việt Nam so với mức tăng 0,75% của Mỹ để nói Việt Nam tăng lãi suất mạnh hơn.
"Bởi, sau dịch Covi-19, Fed bắt đầu tăng lãi suất từ 0% lên 0,5% và rất nhiều lần 0,75%. Trên nền 0% đó thì việc tăng lãi suất là lớn. Trong khi, sau dịch, Việt Nam vẫn có lãi suất huy động 5-6% nên mức tăng 1% không lớn", ông Phước lý giải.
Nhìn chung, ông Phước cho rằng, chính sách tiền tệ của Việt Nam rất linh hoạt, có thể thích ứng nhanh với các diễn biến quốc tế. Nhà điều hành tiền tệ bám sát thực tế và dùng các phương pháp khoa học để tạo ra môi trường tâm lý tốt cho người dân và doanh nghiệp.
Đặc biệt, sự dẫn dắt cho tâm lý tốt không chỉ là việc vẽ ra các kỳ vọng. Thực tế, các chỉ số kinh tế vĩ mô 9 tháng đang rất tốt. Ngoài ra, nông nghiệp vẫn là trụ đỡ chính cho nền kinh tế và các chính sách tài khoá để kiềm chế lạm phát cũng đang có những bước tiến mới.
"Chính sách tiền tệ cũng cần rất thận trọng trong thời điểm này. Vì những tác động tương hỗ giữa lạm phát, lãi suất, tỷ giá có tính công phạt cao. Một chính sách nào đó sai thì sẽ lan toả vào thị trường. Nhưng may mắn Việt Nam đã có kinh nghiệm ứng xử ở cả chính sách tài khoá và tiền tệ", ông Phước nêu quan điểm.
Trong bối cảnh hiện nay, nhiều vấn đề lớn đang đặt ra đối với mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam, về cơ hội và khả năng thu hút thành công nguồn vốn đầu tư nước ngoài thế hệ mới trong các lĩnh vực Việt Nam ưu tiên.
Trong hành trình phát triển kinh tế Việt Nam, năng lực điều hành địa phương không chỉ tạo ra môi trường đầu tư mà còn quyết định tốc độ tăng trưởng của cả một nền kinh tế.
Sau 4 thập kỷ thực hiện công cuộc Đổi Mới đất nước và thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam hôm nay đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới, và ngày càng khẳng định vị thế quan trọng trong khu vực và trên trường quốc tế.
Tại Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam 2026, Tiến sĩ Lê Duy Bình Giám đốc Economica Việt Nam nhận định, dòng vốn FDI vào Việt Nam thời gian qua tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực sản xuất, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo. Thời gian tới, cần thay đổi cách tiếp cận nguồn vốn FDI theo hướng mới.
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới sau 4 thập kỷ tiến hành công cuộc Đổi Mới đất nước, hội nhập với khu vực và toàn cầu.
Chương trình Rồng Vàng vinh danh các doanh nghiệp FDI tiêu biểu đã trải qua một hành trình dài 25 năm đồng hành cùng các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Ngày 14/5, thông tin từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, qua rà soát, phần lớn các trường hợp doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa là công ty đại chúng chưa đáp ứng điều kiện mới về công ty đại chúng.
Ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh Tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam vừa trình bày bài tham luận với chủ đề “Bối cảnh toàn cầu mới và khả năng tiếp cận nguồn vốn cho nhu cầu tăng trưởng cao của Việt Nam” tại Diễn đàn VCF. Những ý kiến từ đại diện UOB đã mang đến nhiều góc nhìn mới trong thu hút nguồn vốn FDI tại Việt Nam.
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: