
Báo cáo “Đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp FDI và các biện pháp thức đẩy giải ngân các dự án FDI và các biện pháp thúc đẩy giải ngân các dự án FDI năm 2011”, do Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) thực hiện một lần nữa cho thấy, tình hình thống kê vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam hiện nay đang tồn tại nhiều điểm bất hợp lý.
Khi tiến hành một loạt hội thảo đánh giá hiệu quả hoạt động của các dự án FDI và các biện pháp thúc đẩy giải ngân vốn FDI, VAFIE nhận thấy trong tổng số vốn thực hiện có khoảng 20% vốn trong nước và 80% vốn nước ngoài, trong khi lâu nay Việt Nam chưa có thống kê riêng con số vốn nước ngoài.
Hiệp hội cũng nhận thấy do phương pháp thống kê FDI của Việt Nam khác với thông lệ quốc tế, nên số liệu thống kế FDI không thống nhất với con số của các tổ chức quốc tế, chẳng hạn của Hội nghị Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD).
Theo báo cáo FDI toàn cầu tháng 7/2010 của UNCTAD thì vốn FDI thực hiện tại Việt Nam đến cuối năm 2009 là 44 tỷ USD. Trong khi theo niên giám thống kê của Việt Nam, con số đó là 67 tỷ USD, nếu trừ đi 20% vốn trong nước thì còn 54 tỷ USD, tức là chênh lệch tới… 10 tỷ USD.
Tổng hợp số liệu từ 450 phiếu điều tra của VAFIE cũng cho thấy tỷ lệ vốn giải ngân trên vốn đăng ký đạt 40%, thấp hơn 6,8% so với báo cáo thống kê.
Mặt khác, theo VAFIE, từ khi phân cấp cấp phép đầu tư cho địa phương, Cục Đầu tư nước ngoài không còn nắm được chính xác, kịp thời số liệu, tình hình FDI cả nước, không có con số vốn đăng ký cập nhật cũng như càng không có vốn thực hiện trong từng thời kỳ của cả nước, phân theo ngành kinh tế, nước và vùng lãnh thổ.
Các báo cáo về FDI chỉ dựa trên tư liệu của một số địa phương, ban quản lý các khu công nghiệp - khu chế xuất để suy diễn tình hình cả nước, do vậy thiếu tính thực tế và khoa học, không thể đánh giá đúng thực trạng FDI để đưa ra giải pháp thích hợp.
Vẫn theo VAFIE, những nhược điểm trên đây không chỉ liên quan đến việc thúc đẩy giải ngân vốn FDI, mà quan trọng hơn là hiệu năng quản lý nhà nước đối với FDI để thu hút thêm vốn đầu tư quốc tế theo đúng định hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng vốn và phát triển bền vững.
Hiệp hội này đề xuất rằng để khắc phục các thiếu sót trên, cần chấn chỉnh hệ thống thông tin FDI bằng phương pháp hiện đại, thông qua Internet được nối mạng từ trung tâm thông tin FDI của Cục Đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp FDI, các sở kế hoạch và đầu tư, các ban quản lý khu công nghiệp - khu chế xuất, Ngân hàng Nhà nước và Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thuế để có được thông tin cập nhật chính xác; qua đó đánh giá đúng diễn biến về thu hút FDI và khi cần thiết, báo cáo với Chính phủ để đề ra định hướng mới thích ứng với tình hình.




Chuyến công tác của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại Liên bang Nga góp phần thúc đẩy hợp tác ASEAN - Nga đi vào chiều sâu, đồng thời tạo thêm động lực cho quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Nga.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Tổng thống Nga Vladimir Putin nhất trí thúc đẩy triển khai hiệu quả các thỏa thuận cấp cao, tạo đột phá trong hợp tác năng lượng, thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ, giáo dục và giao lưu nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Việt Nam và Đức củng cố tin cậy chính trị, tận dụng EVFTA, mở rộng hợp tác trong thương mại, đầu tư, công nghệ, kinh tế xanh và đào tạo nhân lực.
Sáng 19/6, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã về tới Hà Nội, kết thúc tốt đẹp chuyến công tác tham dự Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga tại Liên bang Nga.
Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có doanh nghiệp Nga, đồng thời đề nghị Quỹ Đầu tư trực tiếp Nga thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực tiềm năng.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.