Theo tính toán của WMO và Ngân hàng Thế giới (WB), đầu tư 1 đồng cho khí tượng thủy văn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, từ việc giảm thiệt hại về kinh tế xấp xỉ 28-30 đồng, chưa tính đến thiệt hại về sinh mạng con người.
Qua hơn 10 năm thi hành, Luật Khí tượng thủy văn năm 2015 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước, xã hội đã quan tâm bố trí các nguồn lực về tài chính, nhân lực, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế phục vụ hoạt động khí tượng thủy văn, góp phần nâng cao năng lực quan trắc, dự báo, cảnh báo thiên tai, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Tuy nhiên, báo cáo tại Hội nghị tham vấn chính sách Luật Khí tượng Thủy văn (sửa đổi), ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng điều hành Cục Khí tượng Thủy văn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng so với nhu cầu thực tế của công tác khí tượng thủy văn, nguồn lực đầu tư trên đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập.
Trước hết, nguồn lực tài chính đầu tư cho lĩnh vực khí tượng thủy văn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Trong thời gian qua, nguồn vốn đầu tư công cho ngành khí tượng thủy văn đang giảm mạnh.
Theo báo cáo của Cục Khí tượng Thủy văn, trước thời điểm có Luật Khí tượng Thủy văn, trong giai đoạn 2011-2015 ngân sách Nhà nước đầu tư chỉ đạt 34,7% so với nhu cầu (3.631/10.442 tỷ đồng). Sau khi có Luật Khí tượng Thủy văn, nguồn vốn đầu tư của Nhà nước cho công tác khí tượng thủy văn đạt khoảng 51% trong giai đoạn 2016-2020 (3.893/7.583 tỷ đồng), đạt khoảng 20% (700/3.400 tỷ đồng) trong giai đoạn 2021- 2025.
Quy mô vốn đầu tư công dành cho ngành khí tượng thủy văn đang có xu hướng giảm, cụ thể là năm 2025, tổng vốn đầu tư công cho ngành chỉ còn khoảng 37,1 tỷ đồng, giảm gần 79% so với năm 2021 (177,98 tỷ đồng). Đây là mức đầu tư thấp đối với yêu cầu quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật trải rộng trên phạm vi cả nước, bao gồm hàng trăm trạm quan trắc khí tượng, thủy văn, hải văn; hệ thống radar thời tiết, radar biển; trạm khí tượng trên cao; trung tâm dự báo; siêu máy tính và hạ tầng công nghệ thông tin.
Cục Khí tượng Thủy văn cho rằng mức đầu tư này quá thấp so với giá trị cơ sở hạ tầng, chi phí thiệt hại thiên tai hàng năm trên 45.000 tỷ đồng, chỉ tương đương khoảng 18-25% chi phí xây dựng 1 km đường cao tốc (đây là một trong những loại công trình thường chịu nhiều tác động trực tiếp từ thiên tai khí tượng thủy văn, theo quy định phải tổ chức quan trắc và cung cấp thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn).
Với thiệt hại của các ngành, lĩnh vực kinh tế xã hội do thiên tai tại Việt Nam gây ra trên 45.000 tỷ đồng mỗi năm (giai đoạn 2020- 2025) và có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây, cũng như giá trị của thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn giữ vai trò là hạ tầng thông tin thiết yếu phục vụ phòng, chống thiên tai, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế xã hội mang lại, có thể thấy thực trạng đầu tư cho công tác này thời gian qua là chưa tương xứng.
Thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn có vai trò, ảnh hưởng tới 11/17 Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) thuộc Chương trình Nghị sự 2030 của Liên hợp quốc đã được Việt Nam cùng 192 quốc gia, vùng lãnh thổ thông qua năm 2015.
Theo tính toán của WMO và Ngân hàng Thế giới (WB), đầu tư 1 đồng cho khí tượng thủy văn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, từ việc giảm thiệt hại về kinh tế xấp xỉ 28-30 đồng, chưa tính đến thiệt hại về sinh mạng con người.
Ngoài ra, mạng lưới quan trắc và hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu theo quy hoạch; hệ thống trang thiết bị còn lạc hậu, chưa theo kịp yêu cầu hiện đại hóa
Mặc dù đã được đầu tư trong thời gian qua, mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn quốc gia vẫn chưa đạt quy hoạch được phê duyệt. Theo số liệu hiện có, hiện mới có 217/420 trạm khí tượng bề mặt (đạt khoảng 51,6%), 1.904/4.333 trạm đo mưa (đạt khoảng 44%), 14/30 trạm khí tượng trên cao (đạt khoảng 46,6%), 29/79 trạm hải văn (đạt khoảng 36,7%), 10/39 trạm radar thời tiết (đạt khoảng 34,5%)...
Đối với lĩnh vực thủy văn và quan trắc môi trường, tỷ lệ hoàn thành có cao hơn, đạt 437/526 trạm thủy văn (đạt khoảng 83%) và 88/113 trạm quan trắc môi trường không khí, nước (đạt khoảng 77,9%).
Nhìn chung nhiều loại hình quan trắc hiện đại, đặc biệt là quan trắc biển, radar và khí tượng trên cao vẫn còn thiếu, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực dự báo thiên tai và giám sát biến đổi khí hậu.
Bên cạnh việc thiếu trạm theo quy hoạch, hệ thống trang thiết bị hiện có cũng đang đối mặt với nhu cầu thay thế rất lớn. Theo thống kê, toàn ngành hiện quản lý 7.407 thiết bị quan trắc khí tượng thủy văn, trong đó có 1.327 thiết bị đã hết hoặc quá niên hạn sử dụng, cần được thay thế trong giai đoạn 2026-2030, với tổng nhu cầu kinh phí khoảng 165,875 tỷ đồng.
Trong bối cảnh ngân sách là nguồn lực đầu tư gần như duy nhất cho ngành và còn hạn chế, Luật Khí tượng Thủy văn chưa có quy định hành lang pháp lý để huy động các nguồn lực xã hội, doanh nghiệp, tổ chức quốc tế và khu vực tư nhân tham gia đầu tư phát triển mạng lưới quan trắc và hạ tầng kỹ thuật lĩnh vực khí tượng thủy văn.
Các cơ chế Nhà nước đặt hàng, thuê dịch vụ quan trắc, điều tra khảo sát, cung cấp dữ liệu từ khu vực tư nhân, định mức, đơn giá, cũng như cơ chế cho phép tổ chức, doanh nghiệp khai thác dữ liệu khí tượng thủy văn để phát triển dịch vụ, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo và các sản phẩm thương mại, bảo đảm hài hòa giữa lợi ích công cộng và lợi ích kinh tế chưa được quy định đầy đủ trong Luật hiện hành.
Không những thế, nguồn lực về khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế, nhân lực còn thiếu cơ chế pháp lý thuận lợi để phát triển trong bối cảnh mới, chưa có cơ chế pháp lý đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), mô hình dự báo số trị và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Các đơn vị sự nghiệp công lập khí tượng thủy văn cần được tăng cường quyền chủ động hơn nữa trong việc triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế.
Luật Khí tượng thủy văn năm 2015 được xây dựng trong bối cảnh hoạt động khí tượng thủy văn chủ yếu do Nhà nước đầu tư và tổ chức thực hiện, do vậy chưa dự liệu đầy đủ yêu cầu huy động đa dạng các nguồn lực xã hội và yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế trong bối cảnh phát triển mới của đất nước hiện nay.
Một số quy định của Luật còn mang tính nguyên tắc, thiếu cơ chế cụ thể để huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; chưa tạo hành lang pháp lý thuận lợi để phát huy vai trò của doanh nghiệp, các tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở đào tạo và các tổ chức quốc tế trong phát triển hoạt động khí tượng thủy văn.
Quy định cũng thiếu hành lang pháp lý để thử nghiệm an toàn các công nghệ chưa có quy chuẩn (AI, Drone, vệ tinh viễn thám thế hệ mới), chưa quy định cơ chế "Thử nghiệm có kiểm soát" (Sandbox pháp lý), thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ trong lĩnh vực khí tượng thủy văn, cơ chế ưu tiên đầu tư nguồn lực để Việt Nam giữ vai trò trong Trung tâm Dự báo bão và Lũ quét khu vực…
Hiện nay, ngành khí tượng thủy văn quốc gia hiện có khoảng trên 2600 nhân lực và hàng trăm người lao động làm việc tại các doanh nghiệp hoạt động có liên quan tới công tác khí tượng thủy văn.
Tuy nhiên, đánh giá chung cho thấy các cơ chế, chính sách, quy định hiện hành của Luật Khí tượng Thủy văn để đảm bảo cho nguồn nhân lực kế cận bền vững chưa đầy đủ, còn nhiều bất cập, chưa thu hút được chuyên gia giỏi trong và ngoài nước đủ năng lực tiếp nhận công nghệ mới và giải quyết các bài toán lớn về khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu phức tạp ở quy mô toàn cầu, cũng như tham gia hợp tác, làm việc tại các trung tâm dự báo của Việt Nam…
Để khắc phục những tồn tại hạn chế trên, một trong những chính sách quan trọng được đề xuất trong Luật Khí tượng Thủy văn (sửa đổi), đó là “hoàn thiện thể chế huy động, quản lý và phát huy hiệu quả các nguồn lực cho hoạt động khí tượng thủy văn phục vụ phòng chống thiên tai, phát triển kinh tế xã hội, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia”.
Cục Khí tượng Thủy văn nhấn mạnh rõ mục tiêu nhằm thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng về huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước; tạo cơ chế đồng bộ để huy động, quản lý và phát huy hiệu quả các nguồn lực cho hoạt động khí tượng thủy văn.
Thông qua chính sách, tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm đa dạng hóa nguồn lực đầu tư; nâng cao năng lực quan trắc, dự báo, cảnh báo, hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn; thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; thúc đẩy tạo ra thị trường dịch vụ khí tượng thủy văn năng động, minh bạch, cạnh tranh, hiện đại có sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và các tổ chức quốc tế, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về khí tượng thủy văn.
Khánh Hòa hướng tới việc tách, thu gom và chuyển nước thải sinh hoạt hiện đang chảy theo cống chung ra sông, biển về nhà máy xử lý nước thải. Dự án sẽ giảm thiểu lượng nước thải sinh hoạt xả trực tiếp ra sông, kênh rạch và vịnh biển, góp phần ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, duy trì cảnh quan du lịch và bảo vệ hệ sinh thái sông biển…
Hợp tác với các doanh nghiệp Trung Quốc trong lĩnh vực pin và xe điện đang mở ra cơ hội để Tây Ban Nha củng cố vị thế trong chuỗi giá trị ô tô châu Âu, trong bối cảnh ngành công nghiệp chuyển dịch sang xe điện…
Các kết quả từ kịch bản cung cấp cơ sở khoa học quan trọng hỗ trợ các bộ ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp và các bên liên quan nghiên cứu, tham khảo khai thác và sử dụng trong quá trình xây dựng chiến lược..., góp phần nâng cao năng lực chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; đảm bảo an toàn cho người dân, nền kinh tế và phục vụ phát triển đất nước bền vững trong thời kỳ mới...
Luật Khí tượng Thủy văn là khung pháp lý để quản lý hoạt động khí tượng thủy văn và xác lập rõ vai trò của thông tin khí tượng thủy văn trong hỗ trợ quản trị rủi ro thiên tai. Do đó, Luật cần được thiết kế trên toàn bộ chuỗi từ quan trắc, truyền nhận và quản trị dữ liệu, phân tích, giám sát biến đổi khí hậu đến dự báo, cảnh báo...
Các yêu cầu về chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, thực hành ESG đang được các thị trường, đối tác đặt ra ngày càng khắt khe. ESG không còn là lựa chọn, mà là yếu tố quan trọng quyết định sự sống còn của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi cung ứng...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Liên hoan Văn hóa Ẩm thực Xứ Thanh năm 2026 quy tụ gần 200 gian hàng, giới thiệu hơn 600 món ăn, đồ uống và đặc sản OCOP từ nhiều vùng miền, mang đến không gian trải nghiệm ẩm thực đa sắc màu cho người dân và du khách.