Xin ông cho biết Việt Nam đang đứng ở đâu trên bản đồ cà phê thế giới và đâu là vị thế thực sự của cà phê Việt Nam?
Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới. Năm 2025, xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt kỷ lục khoảng 1,59 triệu tấn, thu về hơn 8,92 tỷ USD. Trong 9 tháng đầu năm 2026, con số này đạt 1,4 triệu tấn, trị giá 6,54 tỷ USD.
Lợi thế Robusta đã tạo dấu ấn riêng cho cà phê Việt Nam trên bản đồ thế giới. Tuy nhiên, cần thẳng thắn nhìn nhận rằng sản lượng lớn chưa đồng nghĩa với vị thế tương xứng về giá trị. Thế giới biết Việt Nam mạnh về nguồn cung, nhưng chúng ta chưa thực sự làm chủ chất lượng để biến thành lợi thế đàm phán, nên chưa thể định hình cuộc chơi.
Điều đó phản ánh khoảng cách giữa quy mô sản xuất và quyền lực trong chuỗi giá trị. Ngành cà phê liên quan gần 2 triệu người, trong đó các tỉnh trồng cà phê có đông đồng bào dân tộc thiểu số và người từ vùng khác đến lập nghiệp. Do đó, khi bàn về vị thế, không thể chỉ nhìn kim ngạch xuất khẩu. Chúng ta phải nhìn cả vùng nguyên liệu, người nông dân, chất lượng sản phẩm, dữ liệu nguồn trồng, truy xuất nguồn gốc cùng năng lực đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Một ngành có quy mô lớn, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cao nhưng vẫn chưa định hình được cuộc chơi. Theo ông, nguyên nhân nằm ở đâu?
Theo tôi, trước hết phải nhìn vào sự liên kết trong ngành. Hiện, cà phê Việt Nam vận hành với nhiều tầng nấc: doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) thường bán hàng qua các doanh nghiệp FDI; doanh nghiệp lớn hơn bán qua thương nhân; còn số ít doanh nghiệp quy mô vượt trội mới bán trực tiếp cho các nhà rang xay.
Chúng ta không thể cứ sản xuất những gì mình có rồi mang bán, mà phải hiểu thị trường cần gì để đáp ứng chuẩn xác, đây chính là điểm yếu của ngành. Doanh nghiệp chưa liên kết đủ mạnh để chia sẻ thông tin, đồng bộ hóa tiêu chuẩn và chất lượng, chưa hình thành hệ sinh thái đủ mạnh cho toàn ngành.
Trong khi đó, thế giới thay đổi rất nhanh. Quy định Chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn phát triển bền vững, giảm phát thải khí nhà kính và yêu cầu khắt khe về chất lượng đang đặt ra chuẩn mực mới cho ngành cà phê.
Tôi cho rằng không nên nhìn các quy định này đơn thuần là áp lực hay sự ràng buộc. Ngược lại, chúng ta phải biến đó thành những việc cần làm để chinh phục thị trường thế giới.
Ví dụ, khi thị trường yêu cầu giảm phát thải, chúng ta phải biết lượng phát thải trong sản xuất ở đâu để có giải pháp xử lý. Khi người mua đòi hỏi chất lượng đồng nhất, ta phải tổ chức lại vùng nguyên liệu và quy trình sản xuất. Làm được như vậy, tiêu chuẩn quốc tế không còn là rào cản kỹ thuật mà trở thành công cụ nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm.
Vậy, đâu là điểm nghẽn khiến Việt Nam có lợi thế về vùng nguyên liệu và sản xuất nhưng chưa kiểm soát được những khâu tạo ra giá trị lớn trong chuỗi cà phê?
Điểm nghẽn nằm ở chỗ Việt Nam mạnh về sản xuất nguyên liệu nhưng yếu ở các khâu tạo giá trị và quyền lực cao hơn trong chuỗi. Sản phẩm chủ lực vẫn là cà phê nhân, tạo ra sản lượng và kim ngạch lớn nhưng giá trị gia tăng hạn chế. Trong khi đó, cà phê chế biến sâu và sản phẩm có thương hiệu tiếp cận người tiêu dùng còn chiếm quy mô nhỏ. Dù sản xuất lượng lớn, nếu không chứng minh được nguồn gốc, thiếu dữ liệu, kiểm soát chất lượng chưa tốt và thiếu thương hiệu thì quyền lực chuỗi giá trị vẫn thuộc về các khâu phía sau.
Thụy Sĩ không phải quốc gia có diện tích trồng cà phê lớn nhưng lại kiểm soát công nghệ chế biến và thương hiệu như Nespresso. Giá trị không nằm ở diện tích đất trồng mà ở năng lực kiểm soát các khâu phía sau của chuỗi.
Tương tự, Malaysia và Indonesia đã xây dựng hệ thống chứng nhận RSPO (hệ thống chứng nhận toàn cầu dành cho dầu cọ bền vững đã được chứng nhận) cho dầu cọ. Khi tiêu chuẩn được quốc tế công nhận, doanh nghiệp đáp ứng chuẩn mực sẽ có vị thế tốt hơn trong chuỗi giá trị.
Việt Nam đã có hệ thống tiêu chuẩn, nhưng nhiều tiêu chuẩn vẫn đang đi theo hoặc mới chỉ tiệm cận quốc tế. Điều quan trọng là phải nâng cao năng lực để không chỉ tuân thủ mà còn tham gia xây dựng tiêu chuẩn.
Muốn vậy, ngành cà phê phải chuyển từ tư duy bán nguyên liệu sang kiểm soát giá trị. Giá trị lớn không chỉ ở vườn cà phê mà xuyên suốt cả chuỗi: từ vùng nguyên liệu, dữ liệu, chế biến, tiêu chuẩn, thương hiệu đến thị trường và người tiêu dùng cuối cùng.
Theo ông, cần làm gì để ngành cà phê Việt Nam chuyển từ thế bị động sang chủ động và từng bước tham gia định hình cuộc chơi toàn cầu?
Trước hết, doanh nghiệp Việt Nam phải liên kết với nhau. Hiện khoảng 95% doanh nghiệp trong ngành là siêu nhỏ, chỉ khoảng 5% là doanh nghiệp lớn có khả năng dẫn dắt. Nếu các doanh nghiệp đầu tàu cùng xác định lợi ích chung, xây dựng hệ sinh thái và liên kết chuỗi giá trị, sức mạnh toàn ngành sẽ tăng lên.
Không doanh nghiệp nào có thể thu mua hết sản lượng hay một mình chinh phục thị trường thế giới. Nếu mỗi bên chỉ làm riêng phần mình, rất khó tạo sức mạnh đủ lớn để thay đổi vị thế toàn ngành. Ngành hàng càng xây dựng được hệ sinh thái và chuỗi giá trị toàn cầu thì càng có khả năng tạo ra giá trị lớn.
Bên cạnh liên kết doanh nghiệp, Nhà nước và các tổ chức liên quan cần tham gia sâu hơn: tái cơ cấu hệ thống tiêu chuẩn từ vật tư đầu vào, vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, dữ liệu vùng trồng đến chất lượng sản phẩm, cùng giải quyết bài toán vốn.
Muốn chuyển từ bị động sang chủ động, phải giải quyết đồng thời nhiều vấn đề: doanh nghiệp liên kết, chính sách phù hợp, tiêu chuẩn được nâng lên, dữ liệu minh bạch, vùng nguyên liệu tổ chức bài bản và doanh nghiệp đủ năng lực đầu tư.
Khi các yếu tố này kết nối thành hệ sinh thái thống nhất, cà phê Việt Nam mới có thể từng bước chuyển từ vị thế tuân thủ luật chơi sang tham gia xây dựng luật chơi, qua đó nâng cao giá trị và vị thế trong chuỗi cà phê toàn cầu.
Với vai trò của VICOFA và việc tham gia các tổ chức quốc tế như Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO), theo ông, ngành cà phê Việt Nam cần làm gì để tiếng nói của mình có trọng lượng hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu?
Vai trò của VICOFA rất quan trọng, bởi ngành cà phê không thể chỉ nhìn từ góc độ từng doanh nghiệp riêng lẻ. Hàng năm, ngành cà phê Việt Nam đóng khoảng 500.000 bảng Anh phí niên liễm (khoản tiền đóng góp định kỳ theo năm của một cá nhân, tổ chức cho một tập thể, hiệp hội, hoặc một tổ chức quốc tế mà họ tham gia) cho Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO), khẳng định Việt Nam không chỉ là nước sản xuất lớn mà còn là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
Tại các diễn đàn quốc tế, Việt Nam không chỉ đối thoại với các nước sản xuất mà còn với người mua, các nhà rang xay và thương nhân. Đây là nơi các bên trao đổi về thị trường, tiêu chuẩn, chính sách và những xu hướng mới. Vì vậy, Hiệp hội phải làm tốt vai trò đại diện tiếng nói của ngành cà phê Việt Nam.
Tuy nhiên, muốn có tiếng nói mạnh trên trường quốc tế, trước hết ngành phải có dữ liệu và sự liên kết trong nước. Nếu doanh nghiệp không chia sẻ thông tin, thiếu đồng thuận thì khó tạo tiếng nói đủ mạnh. Ngược lại, một hệ sinh thái với dữ liệu minh bạch, tiêu chuẩn rõ ràng, vùng nguyên liệu truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu và thương hiệu sẽ giúp vị thế cà phê Việt Nam khác hẳn.
Các yêu cầu mới như EUDR, giảm phát thải khí nhà kính và tiêu chuẩn quốc tế đặt ra nhiều thách thức, nhưng cũng là cơ hội tái cấu trúc ngành cà phê. Chúng ta không nên chờ thị trường yêu cầu mới hành động, mà phải chủ động xây dựng dữ liệu, nâng cao chất lượng, tổ chức lại vùng nguyên liệu và tăng cường liên kết. Khi đó, cà phê Việt Nam không chỉ là nguồn cung lớn mà còn có thể tham gia xây dựng tiêu chuẩn và dẫn dắt chuỗi giá trị cà phê toàn cầu.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 43-2026 phát hành ngày 26/10/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-43-2026.html
Thị trường đang được thúc đẩy bởi những tiến bộ công nghệ và nhận thức ngày càng cao của người tiêu dùng về sức khỏe và thể chất. Khi ngành công nghiệp này tiếp tục đổi mới, đồng hồ thông minh được kỳ vọng sẽ đóng vai trò then chốt trong việc định hình tương lai của công nghệ thiết bị đeo...
Để làm rõ vấn đề này, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy giới thiệu ý kiến của đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp về thực trạng, triển vọng nhu cầu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam; những vướng mắc trong quá trình thực thi chính sách; đồng thời đề xuất giải pháp phát triển nguồn cung phù hợp, minh bạch hóa thông tin và tăng cường kết nối cung - cầu…
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), cho rằng rào cản lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam không chỉ là đáp ứng tiêu chuẩn của khối FDI, mà còn nằm ở mạng lưới cung ứng sẵn có của các tập đoàn này. Do đó cần có sự cởi mở hơn từ doanh nghiệp FDI và thay đổi cách tiếp cận trong hỗ trợ nhà cung ứng trong nước, qua đó thúc đẩy kết nối và phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam.
Trả lời phỏng vấn báo chí bên lề hội thảo “Nhà ở cho người nước ngoài sống và làm việc tại Thành phố Bắc Ninh” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy phối hợp với Ủy ban Nhân dân Thành phố Bắc Ninh tổ chức mới đây, ông Phạm Văn Thịnh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Bắc Ninh, cho biết cùng với quá trình thu hút đầu tư và mở rộng sản xuất, nhu cầu nhà ở của chuyên gia, nhà quản lý và người lao động nước ngoài tại địa phương ngày càng gia tăng.
Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.