
Trường hợp thành công của chuỗi cửa hàng “Made in Vietnam” có thể khiến những quan điểm vẫn cho rằng người Việt "sính" hàng ngoại phải suy nghĩ lại.
Chỉ trong vòng vài năm, hàng trăm cửa hàng treo biển “Made in Vietnam” đã xuất hiện ở khắp Hà Nội, Tp.HCM cho đến các đô thị loại 2, loại 3. Điều này, một lần nữa khẳng định thực tế, nhiều người Việt Nam không chỉ coi trọng cái mác ngoại.
Bởi lẽ, với những sản phẩm gia công cho nước ngoài nhưng đã cắt mác được bán tại chuỗi của hàng “Made in Vietnam”, sự lựa chọn của người mua giờ chỉ còn lại giá trị của kiểu dáng, chất liệu, hay họa tiết trang trí… những tiêu chí đánh giá thực chất giá trị của sản phẩm.
Và các chủ doanh nghiệp Việt Nam, những người đang có nhiều lợi ích từ “làn sóng” đang dấy lên của trào lưu “người Việt dùng hàng Việt”, có thể qua đó lý giải vì sao tình hình kinh doanh của họ không tăng trưởng đột biến.
Đại diện cho phía doanh nghiệp làm dịch vụ thương mại, ông Vũ Vinh Phú, Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội cho biết, sau khi phát động phong trào người Việt ưu tiên dùng hàng Việt thì hiện nay, hàng Việt Nam đã chiếm 80% - 90% lượng hàng hoá trong các siêu thị. “Nhưng liệu có bán được không thì lại là chuyện khác”, ông Phú băn khoăn.
Người đứng đầu một tập hợp các doanh nghiệp có điểm bán lớn tại Thủ đô nêu quan điểm rõ ràng rằng, để người Việt dùng hàng Việt một cách tự giác và tự nhiên thì “đừng nên đưa vào khuôn phép hành chính, mà chính doanh nghiệp phải tạo sức hút”.
Cũng đồng tình rằng hàng hoá của doanh nghiệp trong nước hiện nay đã có cải tiến hơn về chất lượng, giá cả phù hợp với túi tiền người nghèo, nhưng ông Phú đã chỉ ra nhiều yếu kém của hàng nội, đó là kém đa dạng, kém thay đổi mẫu mốt, ít nghiên cứu về người tiêu dùng…
“Ví dụ như hàng may mặc chẳng hạn, hiện nay người dân đã cao hơn trước rất nhiều, nhưng hai chục năm nay các số đo về tay và cổ áo sơ mi vẫn không hề thay đổi”, ông Phú nói. Và điều này đã làm giật mình nhiều doanh nghiệp, vốn lâu nay vẫn cho đây là chuyện nhỏ nhặt.
Nhìn từ góc độ người bán hàng, từ những kinh nghiệm tiếp xúc với đủ loại đối tượng người mua, ông Phú nhận xét rằng, đối với nhiều người nhiều giá cả lại không phải là vấn đề chính. Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội cũng đưa ra lời khuyên cho nhà sản xuất là phải bám sát lấy thị hiếu của từng đối tượng mình cung cấp hàng hoá.
“Đã là nhà kinh doanh thì phải biết tâm lý của các đối tượng khách hàng. Đâu phải thị hiếu của người tiêu dùng, ai cũng giống ai”, ông Phú nêu quan điểm.
Có những điểm yếu của nhà sản xuất Việt Nam đã được nhắc đến rất nhiều, nhưng mức độ cải thiện lại chẳng đáng là bao. Phổ biến nhất và cũng làm cho các doanh nghiệp và sản phẩm nội giảm vị thế, đó là tính liên kết yếu giữa sản xuất và phân phối, khiến cho giá bán đội lên cao.
“Nhà sản xuất hiện nay cũng mở cửa hàng bán lẻ, trong khi đó trong siêu thị không có hàng để bán, và cả hai “ông” đều phải vay ngân hàng để kinh doanh bán lẻ. Thế tại sao không giao bán đại lý cho nhau?”, ông Phú tỏ ra khó hiểu với việc không ít doanh nhân nội quay lưng với lợi ích của chính mình chỉ vì tính cục bộ doanh nghiệp.
Và thực chất, “lỗi liên kết” đến từ hai phía. Một bên thì doanh nghiệp sản xuất nhảy ra bán lẻ, còn một bên thì chính các siêu thị cũng tự dựng “hàng rào” cản trợ doanh nghiệp đưa hàng đến với mình.
“Hiện nay nhiều mặt hàng muốn vào siêu thị tại Hà Nội có khi hàng tháng trời chưa vào được. Có rất nhiều vấn đề trong cơ chế hành chính, những tiêu cực phí cũng có ở trong đó. Cho nên là chúng ta tự tay trái đánh tay phải thôi”, ông Phú thẳng thắn nhìn nhận.
Một điểm yếu khác là việc kém “sống chết” với sản phẩm mình làm ra của nhà sản xuất trong nước. Đại diện của nhiều doanh nghiệp kinh doanh thương mại cho hay, dịch vụ hậu mãi, bảo hành của doanh nghiệp trong nước rất kém. Hơn nữa, nếu người tiêu dùng có vấn đề gì cần khiếu nại thì không biết bấu víu vào đâu.
“Vấn đề xây dựng thương hiệu, chữ tín của hàng nội địa rất kém. Tại sao Metro ở xa tít ngoài ngoại thành mà người ta vẫn tìm đến mua!”, ông Phú đặt vấn đề.
Và thực tế, việc tuyên truyền, quảng bá cũng là một khâu yếu nữa của doanh nghiệp, sản phẩm nội. Kinh phí tuyên truyền quá ít là một thực tế, điều này gây khó khăn cho cả người mua và người bán.
TP. Hồ Chí Minh được xem là “cửa ngõ” thu hút dòng vốn đầu tư thế hệ mới. Thành phố đặt mục tiêu thu hút 19 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài trong 2026, tập trung vào các lĩnh vực tài chính, công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh, phát triển bền vững và đổi mới sáng tạo…
Trong 9 tháng đầu năm 2026, số doanh nghiệp giải thể tăng tới 118%, trong khi khu vực đầu tư tư nhân chỉ tăng trưởng 14%, mức thấp nhất trong ba khu vực kinh tế. Trước áp lực này, TS. Nguyễn Đức Hiển nhận định để thích ứng với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2027, doanh nghiệp cần tái cấu trúc quản trị, tài chính, mô hình kinh doanh và thị trường, thay vì chỉ dựa vào mở rộng vốn và quy mô…
Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật An toàn thực phẩm. Tuy nhiên, đề nghị làm rõ tính khả thi, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, sự hài hòa giữa quản lý và kiến tạo phát triển. Cùng với đó, đề nghị rà soát quy định hai lớp tiền kiểm đối với hàng nhập khẩu; luật hóa tối đa các nội dung đã rõ, đã ổn định...
Do đặc thù địa hình sa mạc và cơ cấu dân số chủ yếu là người nhập cư, UAE phải nhập khẩu tới 85% – 90% nhu cầu lương thực, thực phẩm. Trong bối cảnh đó, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Việt Nam – UAE (CEPA) được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ tại UAE, mà còn mở rộng sang toàn bộ thị trường Trung Đông và châu Phi...
Để xử lý lượng tro bay từ các nhà máy điện rác, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết trong giai đoạn trước mắt vẫn được chôn lấp nhưng về lâu dài, thành phố định hướng chuyển từ chôn lấp sang tái chế, tận dụng tro bay làm nguyên liệu phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng. Chậm nhất sau 2 năm thực hiện phương án chôn lấp, các nhà máy phải đưa ra giải pháp kỹ thuật xử lý tro bay...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Với thông điệp “Cà phê Hòa bình - Make coffee not war”, chuỗi hoạt động “Theo dấu chân 100 năm Cà phê Khe Sanh” kết nối những giá trị lịch sử, văn hóa và nông nghiệp. Đây cũng là dịp để Quảng Trị phát huy tiềm năng du lịch nông nghiệp, đưa câu chuyện cà phê trở thành điểm nhấn trong hành trình khám phá miền Tây của tỉnh.