Đề xuất, mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải cần có lộ trình tăng kịp thời và phù hợp nhằm sớm trang trải được các chi phí thu gom, tiêu thoát và xử lý nước thải, áp dụng đúng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”.
Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải là một khoản tiền mà cá nhân, tổ chức có hành vi xả nước thải ra môi trường hoặc làm phát sinh tác động xấu đối với môi trường phải nộp nhằm bù đắp chi phí khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp dịch vụ tiêu thoát nước thải và bảo vệ môi trường.
Nghị định số 346/2025/NĐ-CP ngày 29/12/2025 của Chính phủ ban hành Nghị định quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải nêu rõ: “Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo quy định tại Nghị định này là nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt, trừ trường hợp đã nộp giá dịch vụ thoát nước theo quy định của pháp luật về giá, pháp luật về thoát nước và xử lý nước thải…” và tổ chức, hộ gia đình, cá nhân xả nước thải nêu trên là người nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải có vai trò rất quan trọng, thể hiện qua 4 khía cạnh chính: (i) có tác dụng điều chỉnh hành vi của người gây ô nhiễm theo hướng có lợi cho môi trường, ngăn ngừa việc xả thải ra môi trường đối với các chất ô nhiễm; (ii) tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước trong hoạt động BVMT, có thêm nguồn kinh phí để chi trả cho các hoạt động cải thiện môi trường; (iii) đảm bảo những tổ chức, cá nhân thải lượng lớn chất độc hại ra môi trường phải chịu gánh nặng tài chính tương xứng với mức độ ảnh hưởng của lượng nước thải ra môi trường; (iv) hỗ trợ cơ quan nhà nước kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm, góp phần phát triển kinh tế gắn liền với mục tiêu phát triển bền vững.
Chính sách về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở Việt Nam được xây dựng trên cơ sở các bộ luật có liên quan, như: Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên nước, Luật Phí và lệ phí (trước đó là Pháp lệnh Phí và lệ phí), Luật Giá… Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở Việt Nam đã được quy định từ năm 2003 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2004), sau đó được sửa đổi, bổ sung cụ thể qua 7 nghị định.
Hiện nay, chính sách về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở Việt Nam được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 346/2025/NĐ-CP ngày 29/12/2025 của Chính phủ quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải (áp dụng từ ngày 1/1/2026); theo đó, có một số vấn đề chính.
Một là, đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải là nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt.
Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp là toàn bộ nước thải phát sinh từ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp xả vào nguồn tiếp nhận theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt bao gồm: (i) nước thải sinh hoạt và nước thải phát sinh từ cơ sở thuộc danh mục các loại hình kinh doanh, dịch vụ phát sinh nước thải được quản lý như nước thải sinh hoạt; (ii) nước thải của cơ sở phát sinh tổng lượng nước thải trung bình năm dưới 20 m3/ngày (tương ứng với 7.300 m3/năm) trong trường hợp sử dụng nước từ hệ thống cung cấp nước sạch.
Hai là, tổ chức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải gồm: (i) cơ quan quản lý nhà nước về môi trường cấp tỉnh, cấp xã theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường là tổ chức thu phí đối với đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp; (ii) tổ chức cung cấp nước sạch là tổ chức thu phí đối với đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt.
Ba là, mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Đối với nước thải sinh hoạt là 10% trên giá bán của 1m3 nước sạch, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trường hợp cần áp dụng mức phí cao hơn, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định mức phí cụ thể cao hơn đối với từng đối tượng chịu phí.
Cho tới đầu năm 2026, ở Việt Nam mới chỉ có TP. Hồ Chí Minh thực hiện thu giá dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải trên địa bàn thay cho phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt. Theo đó, mức giá dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải chiếm tỷ lệ so với giá nước sạch theo từng giai đoạn như sau: trước năm 2022 (áp dụng 10%); năm 2022 (áp dụng 15%); năm 2023 (áp dụng 20%); năm 2024 (áp dụng 25%); từ năm 2025 (áp dụng 30%).
Đối với nước thải công nghiệp: trường hợp cơ sở không thuộc đối tượng phải thực hiện quan trắc theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường mà không tự thực hiện quan trắc để tính phí: Số phí phải nộp trong quý = Tổng lượng nước thải trong quý nộp phí (m3) x Mức phí tính cho 1m3 nước thải (là 1.700 đồng/m3).
Trường hợp cơ sở thực hiện quan trắc các thông số ô nhiễm có trong nước thải để tính phí: Số phí phải nộp trong quý = Tổng lượng nước thải trong quý nộp phí (m3) x Tổng mức phí của tất cả thông số ô nhiễm có trong nước thải phải tính phí (đồng/m3). Trong đó, mức phí của từng thông số ô nhiễm theo bảng 1.
Trường hợp cơ sở thuộc đối tượng phải thực hiện quan trắc nhưng không đủ thông số ô nhiễm phải tính phí mà không tự nguyện thực hiện quan trắc các thông số còn thiếu thì hàm lượng mặc định của các thông số còn thiếu được tính theo hàm lượng quy định trong Nghị định số 346/2025/NĐ-CP (khi đó, mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp theo tổng các hàm lượng mặc định này sẽ là 1.680 đồng/m3 - bảng 2).
Trong quá trình thực hiện chính sách phí bảo vệ môi trường đối với nước thải tại Việt Nam, số thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải giai đoạn 2016 - 2025. Theo đó, số thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải từ năm 2021 đến 2025 có xu hướng tăng khá mạnh; hàng năm, khoản thu này thường chiếm từ 0,11-0,16% tổng thu ngân sách nhà nước, chiếm từ 4,0-6,3% tổng thu phí, lệ phí (không gồm lệ phí trước bạ).
Các nghị định thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải đã được ban hành khá kịp thời, đồng bộ với quy định của các bộ luật có liên quan và yêu cầu của thực tiễn về bảo vệ môi trường. Nhìn chung, số phí bảo vệ môi trường đối với nước thải có sự gia tăng rõ rệt, thể hiện hiệu quả quản lý và ý thức tuân thủ của người nộp phí.
Chính sách phí bảo vệ môi trường đối với nước thải đã tạo cho người dân và doanh nghiệp ngày càng quen với trách nhiệm “xả nước thải gây ô nhiễm phải trả tiền”. Mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ngày càng được tính toán chi tiết, có sức thuyết phục giúp thúc đẩy thói quen tiết kiệm nước và bảo vệ môi trường.
Nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường đối với nước thải đã góp phần đáng kể vào ngân sách nhà nước, hỗ trợ các địa phương đầu tư cho công tác khắc phục, xử lý ô nhiễm môi trường và tình trạng tiêu thoát nước rất dễ bị ngập úng ở các thành phố lớn (Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Huế…) thời gian qua.
Bên cạnh những thành công, chính sách phí bảo vệ môi trường đối với nước thải hiện vẫn còn một số tồn tại và bất cập.
Thứ nhất, mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải hiện nay còn khá thấp và nguồn thu này không thể đáp ứng được các chi phí xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn quy định, chưa áp dụng triệt để nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”.
Thực tế thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở Việt Nam năm 2025 cho thấy: đối với nước thải công nghiệp, mức phí bảo vệ môi trường dao động từ 548 - 3.500 đồng/m3, mức phí bảo vệ môi trường bình quân là 1.988 đồng/m3; đối với nước thải sinh hoạt, mức phí bảo vệ môi trường dao động từ 300 - 1.700 đồng/m3, mức phí bảo vệ môi trường bình quân là 1.100 đồng/m3.
Trong khi đó, theo Công ty cổ phần Công nghệ môi trường Toàn Á, năm 2022 ở Việt Nam, chi phí để xử lý nước thải công nghiệp dao động từ 1.500 - 31.000 đồng/m3, xử lý nước thải sinh hoạt dao động từ 2.000 - 4.000 đồng/m3. Cần lưu ý rằng, mức phí mà Công ty cổ phần Công nghệ môi trường Toàn Á đưa ra mới chỉ bao gồm chi phí cho hệ thống thiết bị và vận hành hệ thống xử lý nước thải (chưa bao gồm một khoản chi phí rất lớn là chi phí xây dựng, vận hành hệ thống thoát nước và thu gom nước thải từ các nơi xả thải đến hệ thống xử lý nước thải…).
Theo báo cáo số 313/BC-BXD ngày 15/11/2025 của Bộ Xây dựng, tính đến đầu năm 2025, cả nước có 900 đô thị, tỷ lệ đô thị hóa đạt 44,3% và dự báo sẽ vượt 50% vào năm 2030. Quá trình bê tông hóa nhanh, san lấp ao hồ, thu hẹp sông, kênh rạch cùng với mưa cực đoan gia tăng khiến ngập úng đô thị ngày càng nghiêm trọng cả về tần suất và phạm vi.
Thống kê sơ bộ cho thấy có 397 điểm ngập tại các đô thị, tổng diện tích ngập lên tới 924 ha. Tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ, Hải Phòng,… nhiều khu vực trung tâm còn thường xuyên ngập sâu từ 0,3-0,8 m, thời gian tiêu thoát sau mưa kéo dài từ 3-6 giờ, thậm chí lâu hơn khi mưa lớn trùng triều cường…
Lý giải nguyên nhân của tình trạng này, Bộ Xây dựng cho rằng phần lớn hệ thống thoát nước tại các đô thị được xây dựng từ trước thập niên 1990, chủ yếu là hệ thống thoát nước chung (vừa thoát nước mưa, vừa thoát nước thải). Nhiều tuyến cống đã xuống cấp, bồi lắng, quy mô nhỏ, không còn phù hợp với yêu cầu tiêu, thoát nước.
Trong khi đó, cả nước có 83 nhà máy xử lý nước thải đô thị với tổng công suất thiết kế 2 triệu m3/ngày đêm, nhưng chỉ vận hành đạt 50-60% công suất do thiếu mạng lưới thu gom đồng bộ. Tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đạt chuẩn mới đạt 18%, chủ yếu tập trung ở các đô thị loại đặc biệt và loại I.
Mặt khác, nguồn lực đầu tư cho thoát nước còn rất hạn chế. Giai đoạn 1995-2021, tổng vốn đầu tư cho thoát nước và xử lý nước thải đô thị là hơn 3 tỷ USD, trong khi nhu cầu vốn đến năm 2030 cần từ 250.000 - 300.000 tỷ đồng (tương đương 10 - 12 tỷ USD) và ngân sách nhà nước mới đáp ứng được 20-25% nhu cầu vốn đầu tư này...
Như vậy, trong giai đoạn 2026 - 2030 nếu chính sách thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải không có thay đổi lớn, dự báo tổng thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải của Việt Nam đạt mức rất lạc quan là khoảng 40.000 tỷ đồng (mức thu hàng năm tăng khoảng 20% so với năm trước), thì khoản tiền này cũng là rất nhỏ (chỉ đạt từ 13 - 16%) so với tổng nhu cầu vốn đầu tư cho thoát nước và xử lý nước thải đô thị mà Bộ Xây dựng đã đưa ra ở trên.
Thứ hai, hiện nay chúng ta không thể quan trắc hết tất cả các cơ sở công nghiệp về lưu lượng, nồng độ nước thải để tính toán mức phí bảo vệ môi trường cho từng cơ sở. Tình trạng doanh nghiệp xả nước thải bừa bãi vẫn diễn ra rất nhức nhối, nhiều nơi cấu kết tinh vi để qua mặt cơ quan chức năng. Việc xác định các đối tượng nộp phí hiện nay là chưa đầy đủ, chưa bao quát hết các thành phần gây ô nhiễm môi trường.
Thực tế thời gian qua ở Việt Nam cho thấy có rất nhiều doanh nghiệp xả thải ra môi trường, nước thải còn chứa kim loại nặng vượt chuẩn,... từ đó, nước thải công nghiệp chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt chuẩn được đổ trực tiếp vào các tuyến sông, hồ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước mặt và gây bức xúc trong cộng đồng. Vì vậy, môi trường bị ô nhiễm nặng nề (nhiễm hóa chất, kim loại nặng, chất độc hữu cơ…), đe dọa hệ sinh thái thủy sinh và đe dọa trực tiếp đến sức khỏe người dân sống xung quanh khu vực xả thải.
Nghị định số 346/2025/NĐ-CP có quy định, trường hợp cơ sở thuộc đối tượng phải thực hiện quan trắc nhưng không đủ thông số ô nhiễm phải tính phí, mà không tự nguyện thực hiện quan trắc các thông số còn thiếu, thì phải tính phí theo hàm lượng mặc định quy định trong Nghị định số 346/2025/NĐ-CP.
Tuy nhiên, mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp theo các hàm lượng mặc định này chỉ là 1.680 đồng/m3 – thấp hơn cả mức phí áp dụng đối với các cơ sở không thuộc đối tượng phải thực hiện quan trắc (là 1.700 đồng/m3), là không hợp lý. Tình trạng này dễ dẫn đến trường hợp: các cơ sở không muốn thực hiện quan trắc đầy đủ và thực hiện nộp phí theo hàm lượng ô nhiễm mặc định để đơn giản công việc mà vẫn được trả phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở mức thấp.
Thứ ba, biện pháp chế tài chưa hiệu quả, chưa đủ mạnh khiến cho nhiều doanh nghiệp, hộ gia đình vẫn cố tình vi phạm quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
Trên thực tế hiện nay vẫn còn khá phổ biến tình trạng doanh nghiệp cố tình không chịu nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, hoặc dùng nhiều thủ đoạn để xả thải bừa bãi ra môi trường. Nguyên nhân chính là do chưa có các biện pháp chế tài đủ mạnh để cưỡng chế các doanh nghiệp vi phạm này.
Hiện nay, biện pháp xử phạt mạnh nhất (được quy định cụ thể tại Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 7/7/2022 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường) áp dụng với những trường hợp không chịu nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, hoặc xả thải không đúng quy định ra môi trường… chỉ là xử phạt hành chính (với mức phạt cao nhất đối với tổ chức có thể lên tới 1 tỷ đồng). Mức xử phạt này chưa có tác dụng răn đe hữu hiệu.
Thứ tư, giải pháp thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải vẫn chưa sâu sát, khó kiểm soát nguồn thải thực tế hoặc bỏ sót nguồn xả thải cần phải nộp phí bảo vệ môi trường.
Trên thực tế, chính sách về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải mới được sửa đổi (có hiệu lực từ ngày 1/1/2026) được nêu tại Nghị định số 346/2025/NĐ-CP ngày 29/12/2025 của Chính phủ, vẫn chưa có nhiều giải pháp đột phá về cách thức thu phí. Đó là:
(i) Vẫn dựa chủ yếu vào tính tự giác kê khai của doanh nghiệp xả nước thải công nghiệp. Thêm vào đó, việc kiểm tra, lấy mẫu và đánh giá chất lượng nước thải tại các cơ sở sản xuất kinh doanh còn mang tính thủ công, định kỳ, không bao quát được toàn bộ thời gian xả thải (đặc biệt là các hành vi xả trộm nước thải chưa qua xử lý vào ban đêm…), dẫn đến môi trường bị ô nhiễm nặng nề.
(ii) Vẫn tính “khoán” bằng tỷ lệ phần trăm trên giá nước sạch (thường ở mức là 10% giá bán nước sạch) đối với nước thải sinh hoạt. Cách tính này không đo lường được khối lượng và mức độ ô nhiễm thực tế xả ra môi trường, thiếu công bằng với các hộ có ý thức tiết kiệm hoặc tái sử dụng nước.
(iii) Thực tế có khá nhiều cơ sở sản xuất và hộ dân sử dụng nước ngầm (giếng khoan) tự khai thác, họ xả thải ra môi trường với khối lượng lớn, nhưng việc quản lý, đo đếm lưu lượng và thu phí BVMT đối với nước thải của nhóm này vẫn chưa được thực hiện, dẫn đến bỏ sót nguồn xả thải và thất thu phí bảo vệ môi trường…
Trong bối cảnh đất nước Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới, việc hoàn thiện chính sách về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở Việt Nam cần sớm khắc phục những tồn tại, bất cập của chính sách đã nêu ở trên. Trước mắt, cần thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, có lộ trình phù hợp để tăng mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải nhằm sớm trang trải được các chi phí thu gom, tiêu thoát và xử lý nước thải, áp dụng đúng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”.
Thực tế vừa qua, khoản thu từ phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở Việt Nam chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với chi phí mà xã hội phải bỏ ra để thu gom, tiêu thoát và xử lý nước thải (ngân sách nhà nước ở trung ương và địa phương phải hỗ trợ phần lớn cho khoản chi này). Vì vậy, cần sớm có lộ trình tăng mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
Đối với nước thải sinh hoạt, mức thu phí phổ biến hiện nay ở các địa phương là 10% so với giá bán nước sạch. Tỷ lệ thu thấp này góp phần khiến cho nước sạch ở Việt Nam là loại hàng hóa rẻ nhất khi tính theo khối lượng (giá nước sạch ở Hà Nội hiện nay khoảng 10.000 đồng/m3, tức là 10 đồng/kg và được vận chuyển tới tận cửa nhà khách hàng). Phí bảo vệ môi trường trong giá nước sạch thấp khiến cho ngân sách nhà nước phải chi trả hầu như toàn bộ chi phí cho hệ thống tiêu thoát, xử lý nước thải và tình trạng ngập lụt ở nhiều đô thị rất nặng nề; chưa có tác dụng khuyến khích người dân sử dụng nước tiết kiệm.
Đề xuất: mức phí qua mỗi năm cần tăng thêm 5 điểm phần trăm để năm 2035 đạt mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt bằng 50% so với giá bán nước sạch. Lộ trình này đã được TP. Hồ Chí Minh thực hiện rất tốt (từ năm 2021 - 2025 đã tăng từ 10% lên 30% giá bán nước sạch). Chính phủ cần đưa ra lộ trình và khuyến khích các địa phương khác thực hiện theo hướng này.
Mặt khác, tham khảo kinh nghiệm tính giá nước sạch ở CHLB Đức cho thấy năm 2021 ở Berlin, đơn giá nước sạch là 1,694 EUR/m3, phí nước thải là 2,2 EUR/m3. Như vậy, khi người dân tiêu thụ hết 1,0 m3 nước sạch thì họ phải trả số tiền là 3,894 EUR (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, tương đương 120.000 đồng/m3), trong đó phí nước thải bằng 130,46% giá bán nước sạch.
Từ thực tế này cho thấy, ở những quốc gia phát triển như CHLB Đức, phí nước thải được tính rất cao để có kinh phí xử lý ô nhiễm môi trường và khuyến khích người dân sử dụng tiết kiệm nước. Ở Việt Nam, cần đặt ra mục tiêu tính phí tiêu thoát và xử lý nước thải ở mức thấp nhất là bằng 100% giá bán nước sạch.
Đối với nước thải công nghiệp cũng cần có lộ trình tăng mức phí so với hiện nay.
Trước mắt, cần tăng hàm lượng thông số ô nhiễm mặc định quy định trong Nghị định số 346/2025/NĐ-CP cao hơn nữa (có thể bằng 1,5 - 2,0 lần so với hiện hành) để buộc doanh nghiệp xả thải phải chấp hành nghiêm quy định về quan trắc môi trường…
Hai là, cần có các giải pháp đồng bộ, mạnh mẽ hơn nữa nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp chấp hành nghiêm quy định về quan trắc môi trường; xử lý nghiêm tình trạng xả nước thải bừa bãi gây ô nhiễm môi trường. Ví dụ như: nâng cao hơn nữa mức xử phạt các hành vi vi phạm quy định về xả thải; hướng dẫn và hỗ trợ để doanh nghiệp thực hiện quan trắc môi trường thuận lợi hơn…
Ba là, có giải pháp thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sát thực hơn, chống bỏ sót nguồn xả thải cần phải nộp phí bảo vệ môi trường. Cụ thể là: đầu tư thực hiện số hóa và tự động hóa hoạt động quan trắc môi trường; khen thưởng kịp thời và thỏa đáng cho các cá nhân cung cấp thông tin giúp chống tình trạng xả thải bừa bãi, gây ô nhiễm môi trường; thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với những tổ chức, cá nhân sử dụng nước ngầm (giếng khoan) tự khai thác…
Để hoàn thiện chính sách phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải cần có lộ trình tăng kịp thời và phù hợp nhằm sớm trang trải được các chi phí thu gom, tiêu thoát và xử lý nước thải, áp dụng đúng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”.
Bên cạnh đó, cần học tập, tham khảo kinh nghiệm về phát triển bền vững, bảo vệ môi trường của các quốc gia khác để mạnh dạn đổi mới chính sách ở Việt Nam nhằm sớm giúp đất nước ta có hệ thống chính sách đủ mạnh, phù hợp với yêu cầu phát triển trong tình hình mới.
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 44-2026 phát hành ngày 2/11/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-44-2026.html
Các chính phủ tham dự COP17 tại Armenia đã nhất trí đẩy nhanh hành động bảo vệ đa dạng sinh học toàn cầu, song bài toán tài chính vẫn chưa có lời giải. Trong khi mục tiêu bảo tồn 30% diện tích đất liền và biển vào năm 2030 đứng trước nguy cơ không hoàn thành, khoảng cách giữa cam kết và nguồn lực thực hiện ngày càng lớn…
UBND Thành phố Hà Nội yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp danh mục các dự án thuộc phạm vi quyết định của Thủ tướng Chính phủ về hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn ESG báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường; đồng thời tham mưu UBND Thành phố công bố danh sách các dự án này định kỳ vào ngày 30/6 và ngày 31/12 hằng năm...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 44-2026 phát hành ngày 02/11/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Đây là mô hình tích hợp, kết nối việc phân loại chất thải sinh hoạt tại hộ gia đình với thu gom, tái chế và vận chuyển phần chất thải không thể tái chế đến nhà máy xi măng để đồng xử lý. Nhà máy xi măng có thể tiếp nhận, sử dụng phần chất thải không thể tái chế làm nguồn nguyên liệu, nhiên liệu thay thế, qua đó giảm lượng rác phải chôn lấp và góp phần hạn chế phát thải khí nhà kính...
Trước yêu cầu phát triển bền vững, các mô hình khởi nghiệp xanh ngày càng đa dạng, tập trung vào chế biến nông sản, khai thác nguyên liệu bản địa, tận dụng phụ phẩm và ứng dụng công nghệ nhằm gia tăng giá trị kinh tế, đồng thời giảm tác động đến môi trường...
Từ những công trình kiến trúc cổ kính đến không gian Hoàng cung được tái hiện bằng công nghệ số, di sản Huế đang được kể lại bằng ngôn ngữ mới, đưa những câu chuyện lịch sử đến gần hơn với thế hệ trẻ.
Mô hình điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ với các thông số cụ thể về khả năng tiết kiệm điện, công suất, chất lượng tấm pin, bộ biến tần (inverter), thương hiệu thiết bị… đang được nhiều hộ gia đình, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất quan tâm. Đây là giải pháp giúp chủ động nguồn điện, góp phần phát triển năng lượng tái tạo, bảo vệ môi trường, là mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững có thể nhân rộng.