Hợp tác đưa dịch vụ y tế đến gần hơn với lao động nữ di cư

Thời gian làm việc, chi phí, khoảng cách và hạn chế thông tin đang tạo ra những rào cản trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của lao động nữ di cư. Các bên đang phối hợp để đưa thông tin, tư vấn và dịch vụ y tế đến gần hơn với nhóm lao động này…

Lao động nữ đối mặt với nhiều rào cản khi tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Ảnh: VGP.
Lao động nữ đối mặt với nhiều rào cản khi tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Ảnh: VGP.

Việt Nam đang triển khai Chương trình nghị sự về Phát triển bền vững 2030, trong đó bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, trẻ em gái là mục tiêu trọng tâm. Đảng và Nhà nước cũng chú trọng thúc đẩy bình đẳng giới, bảo vệ quyền và nâng cao vai trò của phụ nữ trong đời sống chính trị, kinh tế - xã hội.

Khung pháp lý về bình đẳng giới và quyền của phụ nữ từng bước được hoàn thiện qua Bộ luật Lao động 2019, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030, hướng tới thu hẹp khoảng cách giới và bảo đảm sự tham gia, thụ hưởng bình đẳng.

Cùng với thúc đẩy bình đẳng giới, bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp cho phụ nữ, trong đó có lao động nữ di cư tại các khu công nghiệp đang được chú trọng.

Theo Khảo sát Lực lượng Lao động năm 2024, Việt Nam có khoảng 2,2 triệu phụ nữ di cư trong nước, so với 1,7 triệu nam giới. Gần một nửa lao động di cư trong nước, tương đương 46,4%, làm việc trong lĩnh vực sản xuất và xây dựng, tập trung phần lớn tại các khu công nghiệp và cơ sở sản xuất.

Gần một nửa lao động di cư trong nước tập trung phần lớn tại các khu công nghiệp và cơ sở sản xuất. Ảnh: UN Women/Hoàng Thảo.
Gần một nửa lao động di cư trong nước tập trung phần lớn tại các khu công nghiệp và cơ sở sản xuất. Ảnh: UN Women/Hoàng Thảo.

Nghiên cứu “Đánh giá các rào cản và thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản của lao động nữ di cư tại Việt Nam” công bố năm 2023 cho thấy gần 35% người tham gia khảo sát từng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản trong quá trình làm việc tại khu công nghiệp.

Trong các rào cản được ghi nhận, 25,5% người tham gia cho biết giờ làm việc không thuận tiện của các cơ sở y tế tại địa phương là trở ngại lớn nhất. Bên cạnh đó là chi phí dịch vụ, khoảng cách đến cơ sở y tế, hạn chế về thông tin và nguồn hỗ trợ chăm sóc miễn phí từ người sử dụng lao động.

Những lo ngại về quyền riêng tư và cách nhìn nhận của người xung quanh cũng khiến một bộ phận lao động nữ e ngại, trì hoãn việc tìm kiếm sự chăm sóc cần thiết.

Theo ông Bùi Mạnh Hùng, Cán bộ Dự án Quốc gia về Sức khỏe Người di cư, Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) tại Việt Nam, lao động nữ, đặc biệt là lao động nữ di cư, vẫn gặp nhiều rào cản khi tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản tại các khu công nghiệp.

Một trong những trở ngại lớn là giờ hoạt động của cơ sở y tế chưa phù hợp với thời gian làm việc. Hơn 1/4 lao động nữ được khảo sát cho rằng đây là rào cản lớn, bên cạnh chi phí, khoảng cách địa lý và hạn chế thông tin.

Lao động nữ tại các khu công nghiệp đối mặt với nhiều rào cản trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Ảnh: VGP.
Lao động nữ tại các khu công nghiệp đối mặt với nhiều rào cản trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Ảnh: VGP.

Ông Hùng dẫn một số nghiên cứu cho thấy phụ nữ, đặc biệt là lao động nữ, dành trung bình 2,3 giờ mỗi ngày cho các công việc chăm sóc và trách nhiệm không được trả công như việc nhà. Điều này làm giảm thời gian nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe và có thể ảnh hưởng đến thu nhập.

Các trách nhiệm không được trả công cũng khiến lao động nữ ít có cơ hội tham gia tập huấn, ra quyết định tại nơi làm việc và cộng đồng, từ đó hạn chế khả năng tiếp cận thông tin, dịch vụ y tế cơ bản, đặc biệt là với lao động nữ di cư.

Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm 2024 được ông Hùng dẫn, 75% bà mẹ di cư được khảo sát cho biết không thể tiếp cận dịch vụ chăm sóc trẻ em có chi phí phù hợp và chất lượng. Đây cũng là một rào cản với lao động nữ đã có gia đình.

Trong bối cảnh đó, hiện nay, không ít các tổ chức, doanh nghiệp đã triển khai các chương trình hỗ trợ phụ nữ, tập trung vào chăm sóc sức khỏe, tiếp cận thông tin và dịch vụ, trong đó lao động nữ tại các khu công nghiệp là một trong những nhóm được quan tâm.

Ngày 7/10/2026, nhân dịp kỷ niệm 30 năm hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, Kao Việt Nam công bố Chương trình “Tăng cường chăm sóc y tế: Nâng cao sức khỏe cho lao động nữ tại các khu công nghiệp” (Care within Reach: Advancing Women’s Health in Viet Nam’s Industrial Zones).

Chương trình do Kao Việt Nam phối hợp với Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), Cơ quan Liên Hợp Quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN Women), cùng các cơ quan chính phủ, đơn vị y tế và các bên liên quan tại nơi làm việc triển khai. Chương trình tập trung hỗ trợ lao động nữ di cư tại các khu công nghiệp, tăng khả năng tiếp cận thông tin, tư vấn và dịch vụ chăm sóc sức khỏe, trong đó có sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản.

Đại diện Kao Việt Nam, Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), Cơ quan Liên Hợp Quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN Women) tại Lễ công bố chương trình hợp tác hỗ trợ phụ nữ tại Việt Nam. Ảnh: Kao.
Đại diện Kao Việt Nam, Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), Cơ quan Liên Hợp Quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN Women) tại Lễ công bố chương trình hợp tác hỗ trợ phụ nữ tại Việt Nam. Ảnh: Kao.

Ông Nguyễn Quốc Ấn, Phó Trưởng ban Ban Quản lý các Khu công nghiệp - Khu kinh tế Đồng Nai, cho rằng việc quan tâm đến sức khỏe, phúc lợi, kiến thức, điều kiện làm việc và khả năng tiếp cận các dịch vụ của lao động nữ là nội dung cần được chú trọng tại các khu công nghiệp. “Bởi lao động nữ vừa tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất, vừa đảm nhiệm nhiều trách nhiệm trong gia đình”, ông Ấn nói.

Theo ông Shintaro Yasue, Tổng Giám đốc Kao Việt Nam, cải thiện chất lượng sống không chỉ nằm ở việc các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản có sẵn, mà còn ở khả năng tiếp cận của những người thực sự cần được hỗ trợ.

“Đối với lao động nữ di cư trong nước tại các khu công nghiệp, đặc thù công việc và điều kiện sinh hoạt hằng ngày có thể tạo ra những rào cản trong việc tìm kiếm và tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe kịp thời. Do đó, chương trình kỳ vọng góp phần tháo gỡ những rào cản này, đồng thời phối hợp cùng IOM và các bên liên quan để xây dựng những cách tiếp cận phù hợp hơn với nhu cầu và hoàn cảnh thực tế của lao động nữ”, ông Yasue cho biết.

Hàm lượng Omega-3 trong cá hồi nuôi có thực sự cao?

Một nghiên cứu mới cho thấy cá hồi nuôi có thể không cung cấp lượng dưỡng chất nhất định nhiều như những thông tin ta biết. Người tiêu dùng cần một hình dung thực tế hơn về những gì một khẩu phần ăn thực sự cung cấp...

Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy