
Theo báo cáo triển vọng ngành ngân hàng 6 tháng cuối năm của FiinGroup, tín dụng tăng mạnh trong nửa đầu năm ( 10,1% YTD); tuy nhiên, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch lợi nhuận cả năm 2022 của ngành mới ở mức bình quân 51,5%.
Trong đó, lợi nhuận sau thuế (LNST) của 27 ngân hàng niêm yết giảm -7,3% so với quý trước, nguyên nhân chính do thu nhập ngoài lãi giảm -9,8%.
Cụ thể hơn, VPB không còn ghi nhận khoản thu nhập ngoài lãi từ gia hạn hợp đồng bảo hiểm dẫn tới thu nhập ngoài lãi giảm. Nếu loại trừ khoản thu nhập bất thường này thì lãi ròng của các ngân hàng niêm yết vẫn tăng 3,3% so với quý trước nhờ tăng trưởng tín dụng ( 3,3%) và NIM mở rộng.
Mặc dù thu nhập từ lãi vẫn tăng 7,7% so với quý 1 nhưng chi phí dự phòng tín dụng tăng 14,6% cũng góp phần làm giảm lợi nhuận sau thuế của khối ngân hàng. Các hoạt động còn lại đến từ ngoại hối và vàng ( 8,02% QoQ), chứng khoán ( 12,4% QoQ) và các hoạt động khác (-35,1% QoQ).
Tính đến 30/6/2022, tín dụng của 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,1% so với đầu năm, cao hơn mức 7,3% của năm 2021 và 4,2% của năm 2020 nhờ tín dụng phục hồi sau dịch COVID và nền thấp của năm 2021.
Tính riêng quý 2/2022, dư nợ cho vay khách hàng tăng 3,6% so với quý trước (QoQ) trong khi trái phiếu doanh nghiệp giảm -7,4% QoQ.
Ngân hàng Nhà nước hiện vẫn đang điều hành dựa trên hạn mức tín dụng đã cấp từ đầu năm (14%) và trên thực tế, đa phần các ngân hàng đã sử dụng hết room được cấp, cho thấy bức tranh tăng trưởng tín dụng 6 tháng cuối năm có thể rất khác biệt với nửa đầu năm. Lợi thế tăng trưởng cuối năm sẽ thuộc về những ngân hàng được cấp thêm room tín dụng trong đợt tới.
Từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước không giao hết chỉ tiêu 14% tăng trưởng tín dụng mà chỉ giao khoảng 11,5% room, phần còn lại (khoảng 3,5%) sẽ ưu tiên tăng trưởng tín dụng cho những ngân hàng hội tụ được 3 tiêu chí: (i) có hệ số an toàn vốn cao (ii) có tỷ lệ cho vay vào lĩnh vực bất động sản thấp, (iii) có tỷ trọng đầu tư trái phiếu doanh nghiệp thấp và hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước trong việc xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, giảm lãi vay cho khách hàng bị ảnh hưởng dịch Covid-19.
Trong quý 2, NIM tăng 13,9 điểm cơ bản (bps) lên 3,72% do các ngân hàng có xu hướng chuyển dịch tài sản sinh lãi ngắn hạn sang tài sản sinh lãi dài hạn có mức lãi suất cao hơn. Tỷ trọng cho vay dài hạn của các ngân hàng tăng 68% QoQ trong khi tỷ trọng cho vay ngắn hạn và trung hạn lần lượt giảm -36,3 QoQ và -31,8 QoQ cho thấy hoạt động cho vay tập trung nhiều hơn vào các kỳ hạn dài, đẩy lãi suất cho vay bình quân tăng 40 bps.
Các ngân hàng hạn chế đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp trong quý 2 nhằm chuyển dịch hoạt động tín dụng sang cho vay nhiều hơn. Trái phiếu giảm -4,1% QoQ trong khi đó cho vay khách hàng tăng 3,6% cho thấy có sự dịch chuyển trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Ngoài ra, tăng trưởng trái phiếu tổ chức tín dụng cũng chậm lại còn 5,13% trong quý 2/2022 so với 8,76% của quý 1/2022 cũng cho thấy các ngân hàng đang dịch chuyển tài sản ngắn hạn sang tài sản có kỳ hạn dài hơn.
NIM quý 2/2022 tăng tại một số ngân hàng lớn như BID ( 18 bps), CTG ( 42 bps), MBB ( 34 bps) và giảm tại một số ngân hàng có tỷ trọng cho vay bất động sản cao như TCB (- 16 bps), LPB (-32 bps) hoặc ngân hàng đang trong quá trình xử lý nợ VAMC như STB (-13 bps).
Lãi suất cho vay bình quân trong quý 2/2022 có xu hướng tăng trở lại ở hầu hết các ngân hàng như lớn như: CTG ( 82 bps), BID ( 28 bps), MBB ( 78 bps), VPB ( 36 bps) còn có nguyên nhân khác là các ngân hàng không còn giảm lãi suất để hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.
Tỷ lệ nợ xấu (NPL) tăng 7 bps lên 1,49% (chưa bao gồm các khoản nợ tái cơ cấu do Covid-19) nhưng cũng có những điểm sáng trong xử lý nợ VAMC và nợ do Covid-19.
Điểm tích cực là nợ xấu điều chỉnh theo VAMC giảm -23 bps về 1,53% cho thấy nợ xấu VAMC đã được các ngân hàng dùng lợi nhuận để xử lý và chuyển sang một phần sang nợ nội bảng. Trong đó, các ngân hàng lớn đều đã xử lý xong nợ VAMC, một số ngân hàng còn nợ VAMC như STB, EIB vẫn đang tích cực xử lý những khoản nợ này.
Nợ xấu do Covid-19 cũng giảm do sức khỏe tài chính khách hàng tốt lên (chủ yếu ở những ngành như hàng không, du lịch, bán lẻ) tạo điều để các ngân hàng giảm trích lập và có thể được hoàn nhập những khoản trích lập như: TCB, ACB, MBB, MSB, BID.
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLCR) giảm nhẹ về 147% nhưng vẫn ở mức cao cho thấy trong trường hợp nợ xấu (NPL) tăng, các ngân hàng vẫn có bộ đệm về dự phòng để xử lý, giảm tác động đến lợi nhuận của ngân hàng.
Ngoài ra Nghị định 153/2020/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp chưa được thông qua trong bối cảnh việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp đang bị thắt chặt, tiềm ẩn nguy cơ đối với các khoản đầu tư trái phiếu doanh nghiệp sẽ làm tăng áp lực về nợ xấu phát sinh.
Một số ngân hàng có tỷ lệ tăng trưởng trái phiếu doanh nghiệp cao trong 2 quý đầu năm như VPB ( 53%), CTG ( 21,3%), TPB ( 25,2%), MBB ( 17,3%) có thể đối diện với rủi ro tiềm ẩn khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp gặp khó khăn như hiện nay.
Vừa qua, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (Vietbank) phối hợp cùng TikTok tổ chức hội thảo “Bắt nhịp thời đại số, bứt tốc doanh thu”, thu hút hơn 200 khách hàng tham dự. Chương trình chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn về cách chọn sản phẩm chủ lực, xây dựng nội dung, quảng cáo và tổ chức bán hàng trên TikTok, đồng thời giới thiệu các giải pháp tài chính dành cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và cá nhân kinh doanh.
Với ứng dụng MyApp - Mcredit Tài chính thông minh, Mcredit được vinh danh ở hạng mục Đơn vị, doanh nghiệp chuyển đổi số xuất sắc tại Lễ trao Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2026 vào ngày 14/10/2026 vừa qua.
Khi doanh nghiệp kết nối hệ thống bán hàng, phần mềm quản lý hoặc nền tảng vận hành với tài khoản ngân hàng, bài toán không chỉ nằm ở việc tự động ghi nhận giao dịch. Điều doanh nghiệp cần quan tâm là dữ liệu tài khoản được truy cập như thế nào, quyền hạn được kiểm soát ra sao và hệ thống có đủ an toàn để vận hành lâu dài hay không.
Đồng USD cũng tăng trở lại sau khi dữ liệu này được công bố, gây thêm áp lực lên thị trường kim loại quý...
Các nguồn tin nói với Bloomberg rằng BOJ nhận thấy ít có sự cần thiết phải tăng lãi suất liên tiếp, vì chưa có dấu hiệu cho thấy rủi ro lạm phát tăng mạnh đột ngột...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.