
Bộ Y tế đang xây dựng Dự án Luật Dân số, trong đó đề xuất nhiều giải pháp để phát triển bền vững và nâng cao chất lượng dân số.
Tại tờ trình dự án Luật, Bộ Y tế cho biết từ năm 2006 đến năm 2021, nước ta đã đạt và duy trì mức sinh thay thế; duy trì mức độ gia tăng dân số phù hợp; quy mô dân số năm 2024 đạt hơn 101 triệu người.
Việt Nam đang ở thời kỳ dân số vàng, tạo ra những lợi thế to lớn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội; phân bố dân số đã hợp lý hơn, chất lượng dân số, chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta không ngừng tăng lên, tuổi thọ bình quân người Việt Nam ngày càng được nâng cao.
Kết quả nêu trên là tiền đề quan trọng để chuyển chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển.
Tuy nhiên, mức sinh trên toàn quốc đang có xu hướng giảm thấp dưới mức sinh thay thế, từ 2,11 con/phụ nữ (năm 2021) xuống 2,01 con/phụ nữ (năm 2022), 1,96 con/phụ nữ (năm 2023) và 1,91 con/phụ nữ (năm 2024) - thấp nhất trong lịch sử, và được dự báo là sẽ tiếp tục xuống thấp trong các năm tiếp theo.
Nếu mức sinh tiếp tục giảm, đến năm 2039, Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ dân số vàng, năm 2042 quy mô dân số trong độ tuổi lao động đạt đỉnh, và sau năm 2054 dân số sẽ bắt đầu tăng trưởng âm.
Đáng chú ý, mất cân bằng giới tính khi sinh trở thành thách thức. Năm 2006, tỷ số giới tính khi sinh ở mức 109,8 bé trai/100 bé gái sinh ra sống - vượt ngưỡng cân bằng tự nhiên (103-107); năm 2015 là 112,8, năm 2024 là 111,4.
Như vậy, tỷ số giới tính khi sinh luôn ở mức cao. Dự báo, nếu tỷ số giới tính khi sinh vẫn giữ nguyên như hiện nay, Việt Nam sẽ dư thừa 1,5 triệu nam giới 15-49 tuổi vào năm 2039, và tăng lên 2,5 triệu vào năm 2059.
Điều này sẽ dẫn tới nguy cơ phá vỡ cấu trúc gia đình, một bộ phận nam giới sẽ phải kết hôn muộn, không có khả năng kết hôn, gia tăng tình trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em gái, mại dâm, bạo hành giới, tội phạm xuyên quốc gia...
Thách thức nữa cũng được Bộ Y tế chỉ ra, đó là nguồn lực đầu tư cho công tác dân số còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ. Từ năm 2016 đến nay, ngân sách nhà nước giảm mạnh, nhiều địa phương chưa quan tâm đầu tư nguồn lực cho công tác dân số; tài trợ quốc tế hầu như không còn, nguồn lực huy động từ xã hội và tư nhân gặp nhiều khó khăn.
Giai đoạn 2011-2015 là khoảng 740 tỷ/năm, giai đoạn 2016-2020 chỉ còn dưới 360 tỷ/năm. Năm 2021 đến nay, sau kết thúc Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số, giai đoạn 2021-2023, mặc dù nhu cầu thực tế trung bình lên đến 800 tỷ đồng/năm, nhưng địa phương chỉ bố trí được khoảng 95 tỷ đồng/năm, và Trung ương chỉ bảo đảm được khoảng 25 tỷ đồng/năm (chỉ đáp ứng 15% nhu cầu).
Theo Bộ Y tế, đối mặt với các vấn đề về dân số và phát triển cấp thiết, phải giải quyết như Việt Nam, các quốc gia trên thế giới đã ban hành các chính sách, pháp luật để giải quyết.
Cụ thể, về mức sinh, có 55 Chính phủ có chính sách tăng mức sinh, 19 Chính phủ tập trung vào việc duy trì mức sinh hiện tại. Các nhóm biện pháp chính như: Cải thiện chế độ nghỉ thai sản, chế độ bố nghỉ chăm con, chế độ nghỉ phép không lương được bảo đảm công việc, thời giờ làm việc ngắn hơn hoặc bán thời gian. Hay chính sách thưởng cho việc sinh con, ưu đãi thuế, trợ cấp tiền mặt hằng tháng cho trẻ em; hỗ trợ thuê nhà, mua nhà ở...
Về nâng cao chất lượng dân số, nhiều quốc gia đã triển khai các mô hình can thiệp hướng tới mục tiêu là giảm tỷ lệ bệnh tật bẩm sinh. Trung Quốc, Hàn quốc, Philippines, Thái Lan đã quy định và tổ chức tầm soát trước sinh và sơ sinh, kiểm tra sức khỏe trước khi kết hôn...
Trước bối cảnh thực tiễn đang đặt ra như trên, tại dự án Luật Dân số, Bộ Y tế đã đề xuất các biện pháp giải quyết các vấn đề dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội.
Thứ nhất, luật quy định quyền và nghĩa vụ của cặp vợ chồng, cá nhân trong việc sinh con; các biện pháp về duy trì mức sinh thay thế.
Theo đó, cho phép cặp vợ chồng, cá nhân quyết định thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh. Quy định biện pháp duy trì mức sinh thay thế như: Định kỳ Chính phủ công bố tình trạng mức sinh để chính quyền địa phương xây dựng, thực hiện các chính sách hỗ trợ, khuyến khích phù hợp.
Trường hợp mức sinh của một số địa phương xuống mức rất thấp, Chính phủ báo cáo, đề xuất với Quốc hội có biện pháp can thiệp kịp thời.
Đồng thời, cho phép lao động nữ khi sinh con thứ 2 được kéo dài thời gian nghỉ thai sản từ 6 tháng lên 7 tháng; cho phép phụ nữ sinh đủ 2 con ở các khu công nghiệp, khu chế xuất và các tỉnh, thành phố có mức sinh thấp được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội theo quy định của Chính phủ…
Thứ hai, luật quy định về giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh và đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên. Đó là, tiếp tục kế thừa quy định nghiêm cấm hành vi lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức của Pháp lệnh Dân số.
Định kỳ Chính phủ công bố các tỉnh, thành phố mất cân bằng giới tính khi sinh ở các mức rất cao, cao và ở mức cân bằng tự nhiên.
Đáng chú ý, luật quy định tăng mức xử phạt vi phạm hành chính về dân số lên mức là 100 triệu đồng; dự kiến sẽ phải sửa đổi, bổ sung Luật xử lý vi phạm hành chính.
Thứ ba, luật đưa ra các chính sách thích ứng với quá trình già hóa dân số. Đó là, xây dựng và phát triển mạng lưới chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại nhà, tại cộng đồng và cơ sở chăm sóc tập trung.
Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực về chăm sóc người cao tuổi; mua thẻ bảo hiểm y tế cho người cao tuổi chưa có thẻ bảo hiểm y tế được ngân sách nhà nước đóng.
Thứ tư, luật quy định các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dân số. Cụ thể, các biện pháp thực hiện tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn như: Quy định các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở có trách nhiệm thực hiện tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn; khuyến khích nam, nữ thực hiện tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn.
Đối tượng chính sách, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và đối tượng có hoàn cảnh gia đình khó khăn được Nhà nước hỗ trợ thực hiện tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn. Quy định các bệnh bắt buộc phải tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn; các biện pháp thực hiện tầm soát, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh…
Thứ năm, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan để bảo đảm tính thống nhất như: Luật Xử lý vi phạm hành chính, Bộ luật Lao động, Luật Nhà ở, Luật Bảo hiểm y tế...
Dự án Luật Dân số dự kiến trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10, tháng 10/2025.
Tại kỳ họp chuyên đề (kỳ họp thứ bảy) HĐND thành phố Hà Nội khóa XVII đã thông qua Nghị quyết Quy định chính sách hỗ trợ một lần đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố nghỉ giữ chức danh do cơ cấu, kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ khi sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố năm 2026...
Lập sàn chứng khoán giả để thực hiện 920 vụ lừa đảo, nhóm đối tượng do Phó Đức Nam cầm đầu không chỉ chiếm đoạt hơn 1.500 tỷ đồng mà còn thực hiện hành vi rửa tiền quy mô lớn với hơn 561 tỷ đồng được "đổ" vào bất động sản, vàng và USD...
Với việc chuyển đổi thành công mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân, từ nay người dân khi đi làm các thủ tục hành chính về bảo hiểm xã hội, hay đi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế chỉ cần nhớ số định danh cá nhân/căn cước công dân, thay vì phải mang theo nhiều loại giấy tờ như trước đây...
Bộ Y tế vừa yêu cầu siết chặt quản lý đối với chất lượng bữa ăn bán trú. Theo đó, mọi sự thay đổi trong thực đơn đều phải được rà soát, công khai minh bạch và phân định rõ trách nhiệm của từng bên để bảo đảm sức khỏe tối đa cho học sinh...
Sau hơn 5 tháng triển khai, 16 doanh nghiệp sản xuất tại miền Bắc ghi nhận những cải thiện về năng suất, quy trình quản lý và ứng dụng dữ liệu thông qua hai chương trình tư vấn nhà máy thông minh và khuôn mẫu thông minh...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.