Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi) gồm 8 chương, 41 điều, bổ sung nhiều nội dung quan trọng nhằm tăng cường minh bạch, làm rõ trách nhiệm quản lý nhà nước và đảm bảo tính khả thi trong triển khai, có hiệu lực từ ngày 01/5/2026.
Quốc hội đã thông qua dự thảo Luật gồm 8 chương, 41 điều, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong khung pháp lý điều chỉnh hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.
Trước đó, Quốc hội nghe Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Thị Hồng) được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền) trình bày báo cáo tóm tắt tiếp thu, chỉnh lý và giải trình dự thảo Luật.
Báo cáo này phản ánh việc tiếp thu ý kiến thảo luận của đại biểu tại tổ và hội trường, cũng như các ý kiến thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính – Ngân sách.
Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi) gồm 8 chương, 41 điều, bổ sung nhiều nội dung quan trọng nhằm tăng cường minh bạch, làm rõ trách nhiệm quản lý nhà nước và đảm bảo tính khả thi trong triển khai, có hiệu lực từ ngày 01/5/2026.
Chính phủ cũng đã làm rõ một số nội dung được đại biểu quan tâm như: việc chia sẻ thông tin tiền gửi của khách hàng cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi; chính sách vay đặc biệt từ Ngân hàng Nhà nước; quyền cho vay đặc biệt của tổ chức bảo hiểm tiền gửi; cũng như các biện pháp xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng.
Theo Thống đốc Nguyễn Thị Hồng, Dự thảo Luật đã được Bộ Tư pháp phối hợp cùng các đơn vị liên quan rà soát kỹ về thể thức, ngôn ngữ và kỹ thuật văn bản, đảm bảo tính thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành.
Dự thảo Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi) đã được điều chỉnh ở một số nội dung quan trọng. Cụ thể, Luật bổ sung quy định yêu cầu các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải công khai thông tin trên trang thông tin điện tử (Điều 16). Đồng thời, trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước trong công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng được làm rõ, phù hợp với quy định của Luật và các văn bản pháp luật liên quan.
Ngoài ra, quy định giao Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đã được lược bỏ; việc hướng dẫn sau này sẽ căn cứ theo thẩm quyền đã được quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Luật sẽ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/5/2026, tạo điều kiện để các cơ quan liên quan chuẩn bị đầy đủ cho việc triển khai trong thực tế.
7 tháng năm 2026, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì sự ổn định với những tín hiệu tích cực từ khu vực sản xuất và đầu tư công. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tăng 18,4% so với cùng kỳ, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11,4%, đánh dấu mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua. Đặc biệt, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân ước đạt 15,20 tỷ USD, thiết lập kỷ lục cao nhất của kỳ 7 tháng trong vòng 5 năm trở lại đây... Trong bối cảnh đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 7 tháng tăng 4,39%, và lạm phát cơ bản được giữ ở mức 4,19%...
Áp lực giải ngân trong thời gian còn lại của năm 2026 rất lớn, song vấn đề đặt ra không chỉ là giải ngân hết vốn mà phải chuyển vốn ngân sách thành khối lượng công trình thực tế, năng lực sản xuất mới và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Ngày 6/8, Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank -HOSE: NAB), FiinGroup, Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC) và Viện Tăng trưởng xanh toàn cầu (GGGI) Việt Nam sẽ phối hợp tổ chức Hội nghị Tài chính Xanh Việt Nam năm 2026 tại TP. Hồ Chí Minh, với sự đồng hành của Optima Wealth Partners…
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm 2026, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không? Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là chúng ta lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Một trong những vấn đề trọng tâm hiện nay của Việt Nam là làm thế nào để vừa đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm phát triển bền vững trong dài hạn. Mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% trong giai đoạn tới cần được hiểu là mức bình quân của cả giai đoạn, thay vì yêu cầu mọi năm đều phải đạt trên 10%. Cách tiếp cận này giúp tránh tư duy tăng trưởng bằng mọi giá, đồng thời tạo dư địa để điều hành kinh tế linh hoạt theo từng thời kỳ....
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Tại Họp báo Chính phủ thường kỳ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong chủ trì ngày 3/8, thông tin về tình hình phát triển kinh tế-xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm cho thấy các ngành sản xuất duy trì xu hướng tích cực.