![[Phóng sự ảnh]: Thúc đẩy hợp tác trao đổi quốc tế tín chỉ carbon](https://premedia.vneconomy.vn/files/uploads/2026/07/23/24435fbe8cc349dc95fc876f339ec9a9-106942.jpg?w=600&h=360&mode=crop)
Cuối chiều 17/12, Ngân hàng Nhà nước phát đi thông điệp mang quan điểm về diễn biến của tỷ giá hiện nay, cũng như sau sự kiện Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất.
Những phiên giao dịch gần đây, tỷ giá USD/VND có biểu hiện căng thẳng. Giá USD bán ra của các ngân hàng duy trì trạng thái kịch trần biên độ, giá mua vào áp sát giá bán; tỷ giá trên thị trường tự do liên tục lên các mức cao.
Trước diễn biến trên, bà Nguyễn Thị Hồng, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước lý giải chủ yếu là do yếu tố tâm lý trước sự kiện FED họp để quyết định việc tăng lãi suất đồng USD lên 0,25% và diễn biến giảm giá của đồng Nhân dân tệ trong những ngày vừa qua.
Trái với diễn biến trên, đại diện Ngân hàng Nhà nước đưa ra một số thông tin lạc quan.
“Đối với cung cầu ngoại tệ, hiện đang có những diễn biến tích cực. Chúng ta có xuất siêu khoảng 500 triệu USD trong tháng 10 và tiếp tục xuất siêu khoảng 260 triệu USD trong tháng 11. Số liệu về giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tăng trên 17% so với cùng kỳ. Dòng kiều hối tiếp tục đổ vào Việt Nam”, bà Hồng dẫn giải.
Còn trước sự kiện FED tăng lãi suất, người phát ngôn của Ngân hàng Nhà nước cho rằng, theo đánh giá của nhiều chuyên gia cũng như của Ngân hàng Nhà nước thì có tác động không đáng kể đối với thị trường trong nước, bởi hai lý do.
Thứ nhất, đối với dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam, tức là dòng vốn ngắn hạn thì chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn vào ra của Việt Nam. Bởi vậy, tác động của FED tăng lãi suất không nhiều đối với sự dịch chuyển của dòng vốn.
Thứ hai, việc FED tăng lãi suất cũng đã được phản ánh trong kỳ vọng xu hướng tăng của đồng USD suốt từ đầu năm đến nay.
“Với những đánh giá, nhận định như vậy thì thấy rằng, diễn biến tỷ giá trong những ngày gần đây chủ yếu do yếu tố tâm lý bởi tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức cũng như cá nhân tại các tổ chức tín dụng tăng lên”, bà Hồng nêu lại góc nhìn về nguyên nhân biến động.
Về mặt chủ trương điều hành thời gian tới, Phó thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục bình ổn thị trường ngoại hối và tỷ giá.
“Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục nhất quán với những giải pháp điều hành, kể cả các giải pháp về lãi suất, về tiền gửi và các giải pháp liên quan đến cơ chế điều hành”, bà Hồng nói.
Đến ngày 23/7, lãi suất huy động trực tuyến bình quân của 36 ngân hàng đạt khoảng 6,16%/năm (kỳ hạn 6 tháng) và 6,39%/năm (kỳ hạn 12 tháng). So với cuối tháng 6/2026, chỉ có 2 ngân hàng tăng lãi suất…
Tỷ giá USD/VND chịu tác động bất lợi khi nhập siêu nới rộng và giá dầu Brent leo lên 96,2 USD/thùng, song thanh khoản hệ thống ngân hàng vẫn ở trạng thái thuận lợi có thể góp phần hạn chế biến động mạnh trên thị trường ngoại hối...
Theo HSBC, kết quả tăng trưởng GDP 8,18% trong 6 tháng đầu năm phản ánh nền kinh tế Việt Nam đang có thêm nhiều động lực tăng trưởng, trong đó FDI tiếp tục là "lá phiếu tín nhiệm" của nhà đầu tư quốc tế. Dù vậy, áp lực lạm phát, tỷ giá và lãi suất vẫn là những biến số đáng lưu ý trong những tháng cuối năm...
Trong 6 tháng đầu năm 2026, lượng kiều hối chuyển về TP. Hồ Chí Minh đạt hơn 4 tỷ USD. Trong đó, riêng châu Á và châu Mỹ tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất, đóng góp hơn 81% tổng lượng kiều hối…
Sau nhiều phiên đi ngang, giá USD tự do sáng 20/7 bật tăng 120 - 130 đồng, nới rộng khoảng cách với tỷ giá ngân hàng. Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước giảm nhẹ tỷ giá trung tâm, còn phần lớn ngân hàng thương mại vẫn niêm yết giá bán thấp hơn tỷ giá trần. Trên thị trường thế giới, kỳ vọng Fed sớm hạ lãi suất gia tăng sau loạt số liệu lạm phát Mỹ hạ nhiệt...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.