Ngày 21/9, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở 25.637 đồng/USD, không thay đổi so với ngày 18/9. Với biên độ hiện hành, tỷ giá trần ở mức 26.918 đồng/USD và tỷ giá sàn 24.355 đồng/USD.
Giá mua - bán USD của Ngân hàng Nhà nước tăng 5 đồng, lần lượt ở mức 26.863 lên 26.868 đồng/USD.
Cùng ngày, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại diễn biến khá ổn định khi giảm nhẹ khoảng 10 đồng so với cuối tuần trước. Tỷ giá mua quanh mức 25.790 đồng/USD, giá bán quanh 26.200 đồng/USD.
Ngày 21/9, tỷ giá tại một số điểm giao dịch ngoại tệ tự do trên địa bàn TP. Hà Nội nhích tăng 30 đồng ở chiều mua và 20 đồng ở chiều bán so cuối tuần trước nhưng vẫn thấp hơn tỷ giá ngân hàng, giao dịch quanh mức 25.900 đồng chiều mua và 26.000 đồng chiều bán.
Tuần qua (14–18/9), xu hướng thắt chặt tiền tệ diễn ra đồng loạt tại nhiều nền kinh tế lớn. Fed nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản, lên 3,75–4%, đồng thời phần lớn thành viên FOMC dự kiến có thể tăng thêm ít nhất một lần trong năm nay. BOJ ngày 18/9 cũng nâng lãi suất từ 1% lên 1,25%. BOE giữ nguyên lãi suất ở mức 3,75%, song 3/9 thành viên Ủy ban Chính sách tiền tệ bỏ phiếu ủng hộ tăng lãi suất. Trước đó, ECB đã nâng ba mức lãi suất chủ chốt thêm 25 điểm cơ bản trong tháng 9.
Làn sóng thắt chặt chính sách tiền tệ này tạo thêm sức ép lên VND, đặc biệt khi Fed tiếp tục phát tín hiệu duy trì lập trường cứng rắn. Áp lực lạm phát, nhất là từ giá năng lượng, cũng làm gia tăng khả năng mặt bằng lãi suất toàn cầu duy trì ở mức cao trong thời gian dài hơn, qua đó thu hẹp dư địa giảm lãi suất của các nền kinh tế mới nổi và gia tăng áp lực lên tỷ giá.
Trong bối cảnh đó, tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng tăng 102 đồng trong tuần 14 - 18/9, đóng cửa phiên 18/9 ở mức 26.022 đồng/USD. Dù tăng khá mạnh trong tuần, tỷ giá liên ngân hàng vẫn thấp hơn khoảng 1,1% so với đầu năm 2026, cho thấy áp lực bên ngoài gia tăng nhưng chưa làm đảo ngược xu hướng giảm của USD/VND từ đầu năm.
Diễn biến tỷ giá cần được đặt trong mối liên hệ với hoạt động điều tiết thanh khoản của Ngân hàng Nhà nước. Trong tuần 14 - 18/9, nhà điều hành chào thầu 38.000 tỷ đồng qua kênh cầm cố, với 22.134,6 tỷ đồng trúng thầu, trong khi có tới 84.677,7 tỷ đồng đáo hạn. Qua đó, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 62.543,1 tỷ đồng khỏi hệ thống, đưa lượng vốn lưu hành trên kênh cầm cố xuống 152.488,09 tỷ đồng vào cuối tuần.
Thanh khoản thu hẹp kéo mặt bằng lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng tăng mạnh. Chốt ngày 18/9, lãi suất qua đêm lên 4,5%/năm, tăng 1,2 điểm phần trăm so với cuối tuần trước; kỳ hạn một tuần lên 4,8%/năm, hai tuần và một tháng cùng ở 6%/năm.
Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước không để thanh khoản căng thẳng quá mức. Sau nhiều phiên hút ròng, ngày 18/9, nhà điều hành chuyển sang bơm ròng gần 1.290 tỷ đồng. Diễn biến này cho thấy hoạt động trên thị trường mở được điều tiết linh hoạt: thanh khoản VND được duy trì ở trạng thái tương đối chặt, nhưng vốn vẫn được bổ sung khi nhu cầu ngắn hạn của hệ thống tăng lên.
Ngày 18/9, lãi suất qua đêm VND cao hơn 0,71 điểm phần trăm so với lãi suất USD cùng kỳ hạn là 3,79%. Chênh lệch này ở kỳ hạn một tuần là 0,92 điểm phần trăm và hai tuần lên tới 2,07 điểm phần trăm.
Khi lãi suất VND cao hơn USD, chi phí nắm giữ USD bằng nguồn vốn VND tăng lên, qua đó hạn chế các vị thế gây sức ép lên đồng nội tệ. Chênh lệch lãi suất VND - USD dương vì vậy tạo thêm vùng đệm cho tỷ giá, nhất là trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn đồng loạt thắt chặt chính sách tiền tệ.
Đến nay, Ngân hàng Nhà nước vẫn đang cân bằng được hai mục tiêu: giữ chi phí vốn VND không quá cao để hỗ trợ nền kinh tế, đồng thời duy trì sức hấp dẫn tương đối của VND trước những thay đổi của môi trường lãi suất quốc tế.




Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa triển khai chương trình tín dụng ưu đãi với lãi suất cho vay chỉ từ 6,0%/năm (giảm tới 2,0%/năm so với mức lãi suất thông thường) tùy theo kỳ hạn và lĩnh vực vay vốn.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước khẩn trương triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay từ 1,5-2% đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp...
Giá vàng thế giới giảm nhẹ trong phiên giao dịch ngày thứ Sáu (16/10), hoàn tất một tuần đi xuống, dù tỷ giá đồng USD và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ cùng giảm...
Năm 2026 tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng: là năm đầu của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ba phần tư chặng đường của năm đã đi qua, nền kinh tế đạt những kết quả tích cực, song vẫn còn không ít vấn đề cần được giải quyết để hoàn thành các mục tiêu đề ra cho cả năm.
Hồi năm 2012, bản đồ nợ của châu Âu vẫn còn rất đơn giản: ở phía Bắc là nhóm các quốc gia cốt lõi với chi phí vay thấp, trong đó Đức đóng vai trò trung tâm, còn ở phía Nam là nhóm các quốc gia ngoại vi với nợ nần chồng chất...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Thực tế, sau 9 tháng năm 2026, dù kinh tế ghi nhận nhiều kết quả tích cực, chỉ có 12/34 tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng hai con số. Bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà còn là nâng cao năng lực thực thi và chuyển hóa nguồn lực thành giá trị thực chất.