
Theo số liệu Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) vừa công bố, trong tháng 7/2022, sản xuất thép thành phẩm đạt 2,252 triệu tấn, giảm 6,19% so với tháng 6/2022 và giảm 12,5% so với cùng kỳ 2021; tiêu thụ thép các loại đạt 1,99 triệu tấn, giảm 11,48% so với tháng trước và giảm 12,1% so với cùng kỳ.
Tính chung 7 tháng năm 2022, sản xuất thép thành phẩm đạt 18,825 triệu tấn, giảm 3,7% so với cùng kỳ năm 2021; tiêu thụ thép thành phẩm đạt 17,1 triệu tấn, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm 2021.
Về tình hình xuất khẩu, số liệu cập nhật đến tháng 6/2022 cho thấy, xuất khẩu thép thành phẩm của Việt Nam đạt 860.000 tấn, tăng 15,79% so với tháng trước, nhưng giảm 15,05% so với cùng kì năm 2021. Trị giá xuất khẩu đạt 913 triệu USD, tăng 12,98% so với tháng 5/2022, nhưng giảm 1,08% so với cùng kỳ năm 2021.
Tính chung 6 tháng năm 2022, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 4,38 triệu tấn thép giảm 17,49% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị xuất khẩu đạt 5 tỷ USD tăng 11,3% so với cùng kỳ năm 2021.
Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là: khu vực ASEAN (45,07%), Khu vực EU (20,51%), Hoa Kỳ (9,09%), Hàn Quốc (7,14%) và Đài Loan (Trung Quốc) (5,16%).
Từ chiều ngược lại, nhập khẩu thép thành phẩm vào Việt Nam trong tháng 6/2022 đạt 1,24 triệu tấn với kim ngạch đạt 1,38 tỷ USD, giảm 2,85% về lượng và giảm 1,44% về trị giá so với tháng trước, nhưng tăng 10,43% về lượng và tăng 20,81% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021;
Tính chung 6 tháng năm 2022, nhập khẩu thép thành phẩm các loại về Việt Nam khoảng 6,49 triệu tấn với trị giá hơn 6,97 tỷ USD, giảm 8,58% về lượng nhưng tăng 20,32% về giá trị so với cùng kỳ 2021.
Các quốc gia cung cấp thép chính cho Việt Nam bao gồm: Trung Quốc (45,52%), Nhật Bản (15,78%), Hàn Quốc (10,45%), Đài Loan (9,35%) và Ấn Độ (7,27%).
Đối với tình hình thị trường nguyên liệu sản xuất thép, báo cáo của VSA cho thấy, giá quặng sắt loại (62% Fe) ngày 9/8/2022 giao dịch ở mức 108,55-109,05 USD/tấn CFR cảng Thiên Tân, Trung Quốc, giảm khoảng 4,2 USD/tấn so với thời điểm đầu tháng 7/2022. Mức giá này giảm khoảng 102-104 USD/tấn so với mức giá cao nhất được ghi nhận hồi đầu tháng 5/2021 (xấp xỉ 210 – 212 USD/tấn).
Giá than mỡ luyện cốc xuất khẩu tại cảng Australia ngày 9/8/2022 giao dịch ở mức khoảng 183 USD/tấn FOB, giảm mạnh so với mức xấp xỉ 520 USD hồi tháng 4/2022.
Giá thép phế nội địa giảm mạnh từ 1.000 VNĐ/kg đến 1.400 VNĐ/kg giữ mức khoảng 8.500- 9.000 VNĐ/Kg. Giá phế nhập khẩu giảm 130 USD/tấn giữ mức 370 USD/tấn CFR vào cuối tháng 7 và đầu tháng 8/2022
Giá điện cực than chì (GE) tại Trung Quốc giảm trong tháng thứ hai liên tiếp, giảm 3-11% trong tháng 7/2022. Giá và nhu cầu của GE giảm do tình hình kinh tế tồi tệ hơn ở Trung Quốc, hoạt động thấp trong lĩnh vực xây dựng và các hạn chế về kiểm dịch đang tác động mạnh lên các nhà máy. Tuy nhiên xuất khẩu tăng nhẹ.
Giá cuộn cán nóng (HRC) ngày 9/8/2022 ở mức 606 USD/tấn, CFR cảng Đông Á, giảm khoảng 28 USD/tấn so với mức giá giao dịch đầu tháng 7/2022.
Nhìn chung, thị trường HRC thế giới biến động, khiến thị trường HRC trong nước khó khăn do các doanh nghiệp sản xuất thép dẹt (CRC, tôn mạ, ống thép…) sử dụng HRC làm nguyên liệu sản xuất.
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Đóng góp quan trọng nhất mà VIFC-HCMC có thể mang lại cho tăng trưởng kinh tế quốc gia không đơn thuần là thu hút thêm dòng vốn, mà trở thành nền tảng đáng tin cậy để dòng vốn khu vực và toàn cầu lưu chuyển qua đó...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ nhằm đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang quản lý bằng dữ liệu và hậu kiểm. Mục tiêu là rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu...
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.