
Sữa và sản phẩm sữa cũng nằm trong nhóm hàng nhập khẩu có sự tăng trưởng mạnh mẽ nhất từ thị trường Nhật Bản trong 7 tháng năm 2018, cùng với than đá, xơ sợi dệt, điện thoại, máy ảnh và hàng thủy sản.
Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, trong tháng 7/2018, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu từ Nhật Bản đạt 1,52 tỷ USD, tăng 8,3% so với tháng trước và tăng 21,5% so với tháng 7/2017.
Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2018, kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này đạt trên 10,51 tỷ USD, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm 2017.
Năm nhóm hàng mà Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Nhật Bản là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; sắt thép các loại; sản phẩm từ chất dẻo; linh kiện phụ tùng ô tô và vải các loại.
Tuy nhiên, mặt hàng nhập khẩu có sự tăng trưởng mạnh nhất trong 7 tháng năm 2018 lại là than các loại, với mức tăng trưởng gấp 130 lần so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 5,04 triệu USD.
Xếp thứ hai là mặt hàng điện thoại, với mức tăng trưởng 205,6%, đạt trị giá giá 137,02 triệu USD trong 7 tháng đầu năm. Đứng thứ ba là máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tăng 139,4%, đạt 127,83 triệu USD.
Đáng chú ý, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng sữa và sản phẩm sữa từ Nhật Bản cũng bứt phá mạnh, với mức tăng trưởng 61,7%, đạt trị giá 18,5 triệu USD trong 7 tháng năm 2018.
Mặt hàng nhập khẩu từ Nhật Bản có sự sụt giảm mạnh nhất trong 7 tháng đầu năm là ô tô nguyên chiếc với mức giảm 61,6%, chỉ đạt 28,07 triệu USD. Ngoài ra là một số mặt hàng khác như sản phẩm từ dầu mỏ giảm 29,9%; nguyên phụ liệu thuốc lá giảm 28%; hàng điện gia dụng và linh kiện giảm 22,6%...
Cũng theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong tháng 7/2018, Việt Nam đã nhập khẩu 67 triệu USD mặt hàng sữa và sản phẩm sữa. Tính chung trong 7 tháng, trị giá nhập khẩu mặt hàng này đạt 492 triệu USD.
Dự báo lượng nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa từ những thị trường như Nhật Bản sẽ ngày càng lớn. Nguyên nhân là do Việt Nam cùng 10 nước thành viên đã chính thức ký Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) vào ngày 9/3. Theo đó, thuế suất xuất nhập khẩu hàng loạt mặt hàng, trong đó có sữa, sẽ giảm về 0% trong vòng 7 năm.
Trong số 10 nước tham gia CPTPP thì đã có đến 4 nước xuất khẩu sữa sang thị trường Việt Nam với thị phần lớn nhất là New Zealand, Singapore, Malaysia và Nhật Bản.
Trong bối cảnh đất nước đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nhanh và bền vững, việc sản xuất thành công nhôm thỏi đầu tiên không chỉ là thành quả của một dự án công nghiệp, mà còn là sự khẳng định về năng lực tự chủ, hiện thực hóa khát vọng chế biến sâu và nâng cao giá trị tài nguyên quốc gia...
Chỉ trong một thập kỷ, tỷ trọng của tôm hùm trong tổng kim ngạch xuất khẩu tôm đã tăng từ khoảng 7% lên gần 25% trong nửa đầu năm 2026. Đà tăng trưởng này mở ra triển vọng đưa tôm hùm trở thành ngành hàng xuất khẩu tỷ USD nếu tháo gỡ được các rào cản thị trường và xây dựng chiến lược phát triển dài hạn...
Việt Nam hiện là quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hồ tiêu. Tuy nhiên, trước áp lực từ các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu, ngành hàng này cần thay đổi chiến lược: chuyển từ tăng trưởng quy mô sang ưu tiên chất lượng và tính bền vững. Để giữ vững vị thế, việc xây dựng chuỗi giá trị minh bạch và thắt chặt quy trình kiểm soát chất lượng là yêu cầu cấp thiết...
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.
Các chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đang tạo ra những thách thức và cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam. Mức thuế 12,5% theo Điều 301 không gây tác động tiêu cực lớn đến xuất khẩu công nghệ cao, nhưng lại đặt ra bài toán khó cho ngành nông sản và dệt may. Việt Nam cần có chiến lược thích ứng để duy trì lợi thế cạnh tranh.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 30-2026 phát hành ngày 27/07/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.