Sự khác biệt về quy mô, lĩnh vực, mức độ tuân thủ dẫn đến việc áp dụng chung một cơ chế quản lý cho tất cả đối tượng đã bộ lộ nhiều bất cập.
(Tờ trình Dự thảo Luật Quản lý thuế)
Tại Điều 3, Dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến, cơ quan thuế sẽ tiến hành phân nhóm người nộp thuế theo các tiêu chí quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ và chức năng quản lý thuế.
Theo đó, trong thời gian tới, người nộp thuế có thể được cơ quan thuế xếp nhóm dựa trên quy mô hoạt động, doanh thu, ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, loại hình pháp lý, hình thức sở hữu hay đặc thù hoạt động. Việc phân loại này nhằm đánh giá rủi ro, áp dụng biện pháp quản lý phù hợp và phân bổ nguồn lực hiệu quả, thay vì áp dụng cơ chế quản lý chung như quy định hiện hành.
Bộ Tài chính lý giải, quy định phân nhóm người nộp thuế là bước đi tất yếu trong quá trình hiện đại hóa quản lý thuế, từ mô hình thủ công, dàn trải sang quản lý theo rủi ro và tuân thủ, phù hợp với định hướng cải cách hành chính, chuyển đổi số và tối ưu hóa nguồn lực công.
Sự khác biệt về quy mô, lĩnh vực, mức độ tuân thủ dẫn đến việc áp dụng chung một cơ chế quản lý cho tất cả đối tượng đã bộ lộ nhiều bất cập.
(Tờ trình Dự thảo Luật Quản lý thuế)
Thực tiễn cho thấy, trong khi một số doanh nghiệp nghiêm túc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, vẫn tồn tại nhóm có nguy cơ gian lận, trốn thuế, gây thất thu ngân sách nhà nước. Theo đó, người nộp thuế ở Việt Nam hiện nay rất đa dạng, từ các tập đoàn, doanh nghiệp lớn đến hộ kinh doanh, cá nhân nhỏ lẻ.
Chính vì vậy, quy định này được xem là cơ sở pháp lý để cơ quan thuế tập trung nguồn lực vào nhóm rủi ro cao, đồng thời hỗ trợ và tạo thuận lợi hơn cho nhóm tuân thủ tốt, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý và khuyến khích sự tự giác chấp hành.
Như vậy, Dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) nêu rõ, kết quả phân nhóm sẽ được sử dụng làm căn cứ để đánh giá rủi ro về thuế, mức độ tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế.
Từ đó, áp dụng biện pháp quản lý thuế, giám sát thực hiện nghĩa vụ thuế, quy trình nghiêp vụ quản lý thuế phù hợp với từng phân nhóm người nộp thuế; mức độ rủi ro về thuế và lịch sử tuân thủ của người nộp thuế. Trên cơ sở này, cơ quan thuế có thể đưa ra chế độ ưu tiên đối với nhóm chấp hành tốt, đồng thời siết chặt quản lý với nhóm tiềm ẩn rủi ro cao.
Điểm đổi mới này phản ánh xu thế quản lý hiện đại, chuyển từ thủ công sang dựa trên dữ liệu và phân tích rủi ro. Cùng với quá trình chuyển đổi số, hệ thống cơ sở dữ liệu ngành thuế ngày càng phong phú, bao gồm thông tin từ hóa đơn điện tử, tờ khai, báo cáo tài chính, lịch sử tuân thủ cũng như dữ liệu từ bên thứ ba, đây chính là nền tảng để triển khai phân nhóm và quản lý rủi ro trên phạm vi rộng, Dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) cho thấy.
Cũng theo Tờ trình Dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi), mô hình phân nhóm người nộp thuế không mới trên thế giới. Nhiều quốc gia phát triển như Australia, Anh, Hàn Quốc, Canada, Singapore đã áp dụng quản lý thuế dựa trên phân nhóm người nộp thuế, kết hợp với hệ thống đánh giá rủi ro và lịch sử tuân thủ. Ngoài ra, OECD cũng khuyến nghị các nước thành viên thực hiện phân loại người nộp thuế theo mức độ tuân thủ và rủi ro, coi đây là nguyên tắc quản lý thuế tiên tiến.
Những thay đổi trong cách phân loại người nộp thuế được quy định tại Dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ mang lại lợi ích song hành cho cả người nộp thuế và cơ quan quản lý.
Thứ nhất, người nộp thuế sẽ được quản lý phù hợp dựa trên đặc điểm vad hành vi tuân thủ của từng cá nhân. Theo đó, người tuân thủ tốt sẽ được hưởng cơ chế đơn giản hơn, ưu tiên xử lý nhanh, trong khi đối tượng rủi ro cao sẽ bị tăng cường giám sát.
Thứ hai, về phía cơ quan quản lý, chính sách này giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, giảm áp lực hành chính, tăng tính chủ động trong quản lý và đảm bảo công bằng trong quản lý thuế. Đồng thời, quy định phân nhóm người nộp thuế củng cố tính minh bạch, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao niềm tin và sự hợp tác của người nộp thuế.
Bộ Tài chính đánh giá quy định phân nhóm người nộp thuế có thể triển khai ngay thông qua việc tận dụng cơ sở dữ liệu ngành thuế, hệ thống thông tin hóa đơn, tờ khai, báo cáo tài chính, lịch sử tuân thủ và thông tin từ bên thứ ba. Bộ Tài chính sẽ hướng dẫn chi tiết tiêu chí, quy trình phân nhóm và tổ chức giám sát thực hiện thông qua hệ thống công nghệ thông tin và dữ liệu tập trung.



Chốt tuần 3-5/9, mức giảm giá vàng miếng SJC dao động từ 800 nghìn – 1 triệu đồng/lượng đối với cả hai chiều mua và bán. Trong khi đó, diễn biến vàng nhẫn “4 số 9” không đồng nhất giữa các doanh nghiệp, với mức tăng giảm khác nhau tại từng thương hiệu…
Báo cáo việc làm khả quan làm gia tăng khả năng Fed nâng lãi suất, nhưng ông Trump kêu gọi hành động ngược lại...
Cơ quan quản lý quỹ đầu tư quốc gia của Na Uy - quỹ có giá trị tài sản lên tới khoảng 2 nghìn tỷ USD - đang cân nhắc một thay đổi lớn trong danh mục đầu tư trái phiếu chính phủ...
Giá vàng thế giới giảm khá mạnh trong phiên giao dịch ngày thứ Sáu (4/9), khi báo cáo việc làm mạnh hơn dự báo của Mỹ làm gia tăng khả năng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tăng lãi suất trong tháng này...
CPI bình quân 8 tháng năm 2026 đã tăng 4,45%, khiến dư địa để kiểm soát mặt bằng giá trong những tháng còn lại không còn nhiều. Trong bối cảnh giá năng lượng, vận tải và nguyên vật liệu tiếp tục tiềm ẩn biến động, Bộ Tài chính xây dựng hai kịch bản lạm phát năm 2026, tương ứng mức tăng CPI khoảng 4,5% và 5%...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.