Với những khuôn khổ hợp tác đã được thiết lập trước đó, cùng những chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao hai nước, hợp tác kinh tế, thương mại hai bên luôn tăng trưởng tích cực. Việt Nam là đối tác số 1 của Canada tại ASEAN; Canada là đối tác thương mại thứ 3 của Việt Nam tại châu Mỹ. Năm 2024 trao đổi thương mại giữa hai nước đạt 7,23 tỷ USD, tăng 15,8%.
Tuy nhiên, kết quả này vẫn còn rất nhỏ so với tiềm năng và lợi thế giữa hai nước. Tỷ trọng trao đổi thương mại giữa hai nước trong tổng nhập khẩu của hai bên còn thấp. Hàng Việt Nam vào Canada chỉ chiếm 2% tổng số hàng mà Canada nhập từ thế giới; đầu tư của Canada vào Việt Nam cũng rất khiêm tốn, đứng thứ 14/139 quốc gia/vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam.
Chính phủ Việt Nam cam kết tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, ổn định và chủ động đa dạng hóa thị trường và đối tác chiến lược. Đồng thời khẳng định Việt Nam sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Canada sang đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.
Sáng 27/10/2025, tại thủ đô Kua Lumpur (Malaysia), bên lề Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 47 và các Hội nghị cấp cao liên quan, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên đã có buổi làm việc với Hội đồng Kinh doanh Canada do ông Goldy Hyder, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành dẫn đầu.
Việt Nam và Canada là hai nền kinh tế có các mặt hàng xuất khẩu bổ sung, tương hỗ cho nhau. Hiệp định CPTPP mà 2 nước là thành viên đã mở rộng cơ hội thị trường thông qua giảm thuế, minh bạch hóa thủ tục và tăng cường đối thoại. Ủy ban hỗn hợp về Kinh tế song phương cũng đã và đang giúp tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy xúc tiến thương mại và kết nối doanh nghiệp.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên, doanh nghiệp hai nước còn nhiều tiềm năng để khai thác, do đó, hai nước cần kết nối trong sản xuất, chuỗi cung ứng và đầu tư công nghệ, thương hiệu để thúc đẩy thương mại tăng trưởng.
Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cũng cho biết dự kiến tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 đạt 8%, và từ 2026 trở đi, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ đạt hai con số. Đây là mục tiêu tham vọng, chính vì vậy, Việt Nam mở cửa nhiều chính sách để thu hút doanh nghiệp nước ngoài đến hợp tác đầu tư. "Việt Nam có nguồn lao động trẻ, dồi dào, sức mua lớn… đây là cơ hội tốt cho doanh nghiệp Canada đến hợp tác, đầu tư, mở rộng kinh doanh", Bộ trưởng thông tin.
Cho rằng mối quan hệ giữa hai nước được củng cố hơn nữa nhờ cùng tham gia CPTPP, ông Goldy Hyder, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Hội đồng Kinh doanh Canada (BCC) cho rằng mức độ hợp tác thương mại hiện nay mới chỉ là điểm khởi đầu chưa phải là giới hạn cuối cùng. Hai bên còn rất nhiều dư địa để hợp tác sâu rộng hơn.
“Tôi đánh giá cao mục tiêu của các bạn về việc tăng trưởng thương mại gấp nhiều lần. Chúng tôi mong muốn Canada có thể vươn lên vị trí cao hơn trong danh sách các nhà đầu tư tại Việt Nam, đồng thời bảo đảm hai bên phối hợp chặt chẽ trong những ưu tiên của các bạn như an ninh năng lượng, an ninh lương thực, công nghệ, nguồn nhân lực và lực lượng lao động có kỹ năng. Đây đều là những cơ hội then chốt để chúng ta mở rộng hợp tác”, ông Goldy Hyder nhấn mạnh.
Ông Goldy Hyder cũng bày tỏ mong muốn có thêm thời gian để nghiên cứu sâu hơn cách thức hỗ trợ chuyển đổi số trong giáo dục, cũng như nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động nhằm nắm bắt tốt hơn các cơ hội hợp tác. Đồng thời, cả hai quốc gia đều đang nỗ lực bảo đảm thị trường lao động được trang bị tốt để đáp ứng quá trình chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
“Chúng tôi đang xây dựng các nền tảng học tập được sử dụng bởi các trường đại học và doanh nghiệp. Chúng tôi có sự hiện diện lớn tại Singapore, nơi phần lớn các trường đại học đang sử dụng công nghệ của chúng tôi để hỗ trợ sinh viên”, ông Goldy Hyder thông tin.
Liên quan về đào tạo AI và ứng dụng chuyển đổi số, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cho biết hiện Bộ Công Thương đang quản lý 9 trường đại học và 21 trường cao đẳng, trong đó có một số trường đại học đã đào tạo về AI, bán dẫn. Giai đoạn đến năm 2030, Việt Nam cần đào tạo 50.000 kỹ sư công nghiệp bán dẫn. Vì vậy, Bộ trưởng mong muốn các doanh nghiệp Canada quan tâm, tìm kiếm cơ hội hợp tác với hệ thống các trường thuộc Bộ Công Thương trong lĩnh vực này.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.