
Tham gia chất vấn, đại biểu Võ Thị Minh Sinh (Nghệ An) yêu cầu Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nêu rõ những bài học kinh nghiệm từ các gói kích thích kinh tế trước đây khi xây dựng chương trình phục hồi và phát triển thời gian tới.
Ghi nhận ý kiến của đại biểu, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết gói kích thích trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế năm 2008-2009 mà theo ông còn nhiều tồn tại và bất cập.
Theo Bộ trưởng, gói kích thích 2008-2009 chủ yếu tập trung vào phát triển kinh doanh và xuất khẩu, kích cầu đầu tư tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã hội với quy mô 122.000 tỷ đồng (6,9 tỷ USD). Trong đó, riêng năm 2009, dành 106.600 tỷ đồng (5,7 tỷ USD), tương đương 5,6% GDP lúc đó để kích cầu kinh tế.
Gói kích thích này giúp đất nước vượt qua khủng hoảng và trở thành một trong số ít quốc gia có tăng trưởng dương (lần lượt là 5,7% và 5,4% trong năm 2008 và 2009). Tuy nhiên, Bộ trưởng chỉ ra hàng loạt bất cập cần phải rút kinh nghiệm.
“Gói kích thích này khi đó chủ yếu tập trung vào nguồn cung mà không hỗ trợ đầu ra cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hỗ trợ lãi suất lớn nhưng thiếu đồng bộ với các chính sách về tiền tệ và tài khóa khác, làm giảm hiệu quả dẫn tới trục lợi chính sách”, Bộ trưởng chỉ ra.
Ông cũng dẫn chứng về tình trạng vay vốn rẻ để gửi ngân hàng và hưởng chênh lệch lãi suất, hoặc chảy vào thị trường chứng khoán, bất động sản chứ không chảy vào sản xuất.
Về ảnh hưởng vĩ mô, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết gói kích thích này khiến lạm phát tăng cao, năm 2010 và 2011 lần lượt là 9,2% và 18,6%. Đầu tư dàn trải gây nợ đọng lãng phí, đình hoãn, nhiều dự án dừng vào năm 2011 đến nay chưa giải quyết được hậu quả. Ông cũng cho biết một số chương trình hỗ trợ lãi suất đến nay chưa quyết toán được, gây hệ lụy lớn.
Bộ trưởng đánh giá gói kích thích này khi đó được triển khai thiếu đồng bộ với các chính sách tài khóa và tiền tệ, công tác quản lý giám sát thiếu chặt chẽ, thực hiện trên nền vĩ mô thiếu ổn định, chính sách hỗ trợ chưa sát thực tiễn, điều kiện vay vốn cho doanh nghiệp chưa công khai, minh bạch.
Do đó, Bộ trưởng rút ra 4 bài học kinh nghiệm từ gói kích thích này.
Thứ nhất là cần có một chương trình tổng thể với quy mô đủ lớn và đủ khả năng vay trả và phù hợp với khả năng hấp thụ của nền kinh tế.
“Hiện tại giải ngân còn chưa hết, sắp tới có một gói cầu đầu tư nào đó thì làm sao giải ngân kịp trong 2022 và 2023. Đây là thách thức đang đặt ra với chúng ta. Nếu chúng ta xây dựng chương trình kích cầu đầu tư nhưng không chuẩn bị kịp, giải phóng mặt bằng chưa xong thì nền kinh tế không hấp thụ được. Không thể kéo dài gói hỗ trợ tới 5-10 năm sau”, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nêu quan điểm.
Kinh nghiệm thứ hai được Bộ trưởng rút ra là phải thực hiện đồng bộ, hiệu quả và kịp thời, đồng thời đảm bảo tính ổn định.
Thứ ba là hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào một số ngành và lĩnh vực có khả năng phục hồi. Trong đó, hỗ trợ về dòng tiền và ổn định tài chính cho doanh nghiệp, đồng thời huy động các nguồn lực quốc tế khác.
Bộ trưởng nhấn mạnh kinh nghiệm thứ tư là phải kiểm soát rủi ro và có giám sát chặt chẽ trong khâu thực hiện.
Cũng quan tâm tới nội dung này, Đại biểu Nguyễn Văn Hiển (Lâm Đồng) dẫn ý kiến của các chuyên gia quan ngại cho rằng để hỗ trợ an sinh xã hội và phục hồi nền kinh tế sau đại dịch, cần gói hỗ trợ đủ lớn, đặc biệt là gói tiền mặt tương đương 3-4% GDP. Tuy nhiên, nếu làm vậy thì nợ công sẽ tăng cao và tăng bội chi ngân sách. Còn nếu không có giải pháp đủ lớn thì kinh tế chậm phục hồi, lỗi nhịp so với sự phát triển của các nước, kèm theo nhiều hệ lụy tiêu cực.
Trả lời băn khoăn của đại biểu, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết ông ủng hộ quan điểm nới bội chi ngân sách và nợ công. Ông cho rằng nếu không nới bội chi và nới nợ công thì khó có điều kiện tăng trưởng và khó đạt mục tiêu 5 năm, chiến lược 10 năm cũng như khát vọng là nước phát triển vào năm 2045. Bên cạnh đó, đất nước cũng mất cơ hội từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, dân số vàng, các hiệp định thương mại tự do, những chuyển dịch mới.
“Khi làm vậy, sẽ vừa phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, làm cho quy mô nền kinh tế lớn hơn, khi đó tự khắc nợ công sẽ giảm xuống dù không thể xuống như cũ. Còn nếu không nới, không có đầu tư, không có phát triển, sẽ là vòng luẩn quẩn là bội chi, nợ công lúc nào cũng ở mức cao, trong khi chúng ta bỏ hết cơ hội phát triển", Bộ trưởng Dũng nêu quan điểm.
Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xây dựng nhằm hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy sáng tạo, phát triển thị trường và đưa công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng của đất nước.
Việt Nam và Canada chính thức nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược, xác lập 8 trụ cột hợp tác từ kinh tế, thương mại, công nghệ, năng lượng đến quốc phòng, giáo dục và giao lưu nhân dân, đồng thời nhất trí xây dựng Kế hoạch hành động để triển khai các mục tiêu mới.
Việt Nam và Canada cần sớm cụ thể hóa khuôn khổ Đối tác Chiến lược bằng chương trình hành động với các ưu tiên, đầu mối thực hiện và lộ trình rõ ràng; khai thác hiệu quả CPTPP, thúc đẩy thương mại, đầu tư, đổi mới sáng tạo và kết nối chuỗi cung ứng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị đưa hợp tác nghị viện trở thành trụ cột quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Canada, đồng thời thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Việt Nam và Canada mở rộng hợp tác kinh tế, đầu tư, khoa học - công nghệ, năng lượng, hạ tầng và chuỗi cung ứng, tạo thêm những động lực tăng trưởng mới cho quan hệ song phương.
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Chỉ khoảng 105.000 đồng mỗi hộp, những sản phẩm An Cung giả được đưa qua nhiều tầng trung gian rồi bán đến tay người tiêu dùng với giá gần 3 triệu đồng. Đáng chú ý, các đối tượng sử dụng viên hoàn và nguyên liệu không rõ nguồn gốc để đóng gói, dán nhãn thành sản phẩm hàng ngoại.