Chín nhóm giải pháp lớn phát triển đô thị thông minh Hà Nội

Hà Nội sẽ phát triển các ứng dụng, dịch vụ hạ tầng kỹ thuật đô thị thông minh: giao thông thông minh, năng lượng thông minh, chiếu sáng công cộng thông minh, cấp, thoát nước thông minh, quản lý chất thải rắn thông minh...

Hà Nội chỉ rõ 12 nhiệm vụ chính và 9 nhóm giải pháp quan trọng để phát triển đô thị thông minh. Ảnh minh họa.
Hà Nội chỉ rõ 12 nhiệm vụ chính và 9 nhóm giải pháp quan trọng để phát triển đô thị thông minh. Ảnh minh họa.

Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Trương Việt Dũng vừa ký ban hành Kế hoạch số 243/KH-UBND ngày 08/9/2025 về việc triển khai các nhiệm vụ, giải pháp phát triển đô thị thông minh trên địa bàn đến năm 2030.

Kế hoạch nhằm tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp xây dựng Thủ đô trở thành đô thị thông minh đến năm 2030; kết nối với mạng lưới thành phố/đô thị thông minh trong cả nước, khu vực và trên toàn thế giới; trở thành trung tâm, động lực thúc đẩy phát triển vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước;

Cùng với đó, thành phố đi đầu về quản lý, điều hành dựa trên dữ liệu với việc ứng dụng công nghệ số và phân tích dữ liệu trong mọi hoạt động của cơ quan nhà nước và các hoạt động kinh tế xã hội. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân năm 2025 đạt 8,5%, chuẩn bị cho tăng trưởng hai con số trong các năm tiếp theo.

Để xây dựng và phát triển đô thị thông minh, trong kế hoạch, Hà Nội chỉ rõ 12 nhiệm vụ chính và 9 nhóm giải pháp quan trọng.

Theo đó, một trong những nhiệm vụ chính đó là khẩn trương rà soát, điều chỉnh hoặc xây dựng chiến lược phát triển đô thị thông minh của thành phố Hà Nội gắn hiện đại hoá hạ tầng, xây dựng nền tảng chính quyền đô thị số; ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong điều hành, quản lý, phục vụ người dân, doanh nghiệp, hướng tới chuyển đổi số, chuyển đổi xanh…

Cùng với đó nâng cao nhận thức, đột phá về đổi mới tư duy, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tạo xung lực mới, khí thế mới trong toàn xã hội về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Khẩn trương, quyết liệt hoàn thiện thể chế; xóa bỏ mọi tư tưởng, quan niệm, rào cản đang cản trở sự phát triển; đưa thể chế thành một lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thành phố đi đầu về quản lý, điều hành dựa trên dữ liệu với việc ứng dụng công nghệ số và phân tích dữ liệu trong mọi hoạt động của cơ quan nhà nước và các hoạt động kinh tế xã hội.
Thành phố đi đầu về quản lý, điều hành dựa trên dữ liệu với việc ứng dụng công nghệ số và phân tích dữ liệu trong mọi hoạt động của cơ quan nhà nước và các hoạt động kinh tế xã hội.

Kế hoạch cũng nhấn mạnh việc tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong doanh nghiệp. Thành phố cũng chú trọng phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Đáng chú ý, kế hoạch đề cập đến cơ chế thí điểm có kiểm soát trong đô thị thông minh; đồng thời nghiên cứu, triển khai thí điểm các khu đô thị thông minh, toà nhà thông minh.

Triển khai các nhiệm vụ đạt mục tiêu trên, trong kế hoạch, Hà Nội nêu rõ 9 nhóm giải pháp quan trọng tập trung thực hiện.

Thứ nhất, quy hoạch xanh thông minh; Quy hoạch không gian ngầm và không gian thông minh; Phát triển không gian xanh, sông nước và văn hóa; Quy hoạch đô thị gắn với giao thông công cộng; Tích hợp công nghệ thông minh trong quy hoạch.

Thứ hai, phát triển kinh tế số và dịch vụ thông minh; Phát triển khu công nghệ cao và đổi mới sáng tạo; Phát triển nông nghiệp thông minh và đô thị sinh thái, thông minh; Phát triển bền vững và bảo vệ môi trường; Phát triển đồng bộ các khu vực kinh tế và thị trường số.

Thứ ba, về tài chính– đầu tư: Triển khai Luật Thủ đô ngày 28/6/2024, đảm bảo nền tảng pháp lý cho các giải pháp tài chính.

Thứ tư, truyền thông nâng cao nhận thức và tạo sự đồng thuận; Đào tạo kiến thức về đô thị, thành phố thông minh; Tổ chức chiến dịch truyền thông trải nghiệm; Hỗ trợ truyền thông cho doanh nghiệp; Ứng dụng công nghệ truyền thông hiện đại.

Thứ năm, thu hút sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp: Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; Khuyến khích cung cấp và sử dụng dữ liệu mở; Ưu đãi tài chính; Xây dựng nền tảng phản hồi cộng đồng; Tổ chức cuộc thi và giải thưởng sáng tạo; Liên kết quốc tế; Phát triển mô hình tài chính cộng đồng.

Thứ sáu, phát triển nhân lực chất lượng cao; đào tạo nhân lực cho đô thị, thành phố thông minh; giáo dục STEM; hỗ trợ cộng đồng tiếp cận công nghệ; thu hút nhân tài công nghệ thông tin- truyền thông; phát huy vai trò lãnh đạo trong thu hút chuyên gia.

Thứ bảy, ưu tiên kinh phí cho nghiên cứu công nghệ số; tăng cường hạ tầng công nghệ số; khuyến khích khởi nghiệp sáng tạo; phát triển trung tâm đổi mới sáng tạo; phát triển thị trường khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế.

Thứ tám, duy trì và mở rộng hợp tác quốc tế; khuyến khích đầu tư quốc tế vào thành phố thông minh; tham gia mạng lưới thành phố thông minh toàn cầu; hỗ trợ đào tạo và trao đổi chuyên gia; phát triển hợp tác công- tư quốc tế (PPP).

Thứ chín, phát triển các ngành trong đô thị thông minh: Quy hoạch và kiến trúc; Xây dựng; Văn hóa; Nông nghiệp và Môi trường; Y tế.

UBND Thành phố giao các sở, ban, ngành Thành phố căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện, triển khai nhóm nhiệm vụ, giải pháp theo ngành, lĩnh vực quản lý. Đồng thời lồng ghép yêu cầu, nhiệm vụ, tiêu chí về phát triển đô thị thông minh trong chương trình, kế hoạch, đề án phát triển tổng thể của ngành, lĩnh vực quản lý.

Thành phố yêu cầu, phát triển đô thị thông minh phải lấy người dân làm trung tâm, phát triển và vận hành đô thị thông minh trên cơ sở tài nguyên cốt lõi là dữ liệu đô thị. Bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và tương tác; tích hợp toàn diện, triển khai linh hoạt và thích ứng; phát triển bền vững và huy động đa dạng nguồn lực.

Quản lý bền vững các chất được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal

Dự án hướng tới hỗ trợ Việt Nam loại trừ 97,5% mức tiêu thụ cơ sở các chất HCFC từ năm 2030 và giảm 10% mức tiêu thụ cơ sở các chất HFC từ năm 2029. Dự kiến dự án giúp cắt giảm lượng phát thải hàng năm lên tới 6,1 triệu tấn CO2 tương đương; góp phần thực hiện mục tiêu đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050...

Liên kết vùng nguyên liệu mở hướng phát triển bền vững cho ngành gỗ Việt Nam

Phát triển vùng nguyên liệu bền vững, mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ và khai thác thị trường tín chỉ carbon, đang được xem là những giải pháp then chốt giúp ngành gỗ Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, người trồng rừng và hoàn thiện nền tảng khoa học cho phát triển vùng nguyên liệu...

Điều kiện để doanh nghiệp tham gia thị trường carbon toàn cầu

Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.

Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy