Cục Thuế đã có văn bản số 5363/CT-CS yêu cầu cơ quan Thuế các tỉnh, thành phố chủ động phân công đơn vị
trực thuộc xây dựng và trình Ủy ban Nhân dân ban hành Bảng giá tính lệ phí
trước bạ đối với ô tô và xe máy mới.
Cụ thể, theo quy định tại khoản 8 Điều 1 Nghị
định số 175/2025/NĐ-CP (sửa
đổi, bổ sung từ khoản 4 Điều 13 Nghị định số 10/2022/NĐ-CP), Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương có trách nhiệm ban hành Bảng giá tính lệ phí trước bạ đối
với nhà, ô tô, xe máy.
Theo trên, Khoản 2
Điều 2 Nghị định số 175/2025/NĐ-CP nêu rõ, trong trường hợp các địa phương chưa ban hành Bảng giá tính lệ phí
trước bạ đối với ô tô, xe máy trong khoảng
thời gian từ ngày 1/7/2025 đến hết 31/12/2025 thì
tiếp tục áp dụng Bảng giá và Bảng giá điều chỉnh, bổ sung do Bộ Tài chính ban
hành.
Điểm a khoản 2 Điều 3 Thông tư số
13/2022/TT-BTC,
được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Thông tư số 67/2025/TT-BTC cũng
quy định, cơ quan Thuế cấp tỉnh thực hiện
cập nhật, tổng hợp cơ sở dữ liệu giá chuyển nhượng trên thị trường, giá tính lệ
phí trước bạ đối với ô tô, xe máy.
Song song, cơ quan Thuế cấp tỉnh cũng cần
phối hợp chủ trì với các đơn vị liên quan rà soát
cơ sở dữ liệu, xây dựng và trình Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh ban hành Bảng giá tính lệ phí
trước bạ cũng như điều chỉnh, bổ sung theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 7
Nghị định số 10/2022/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Nghị định số 175/2025/NĐ-CP, Cục Thuế cho biết.
Ngoài ra, căn cứ
khoản 2 Điều 43 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP sửa đổi bởi khoản 24 Điều 1 Nghị
định số 187/2025/NĐ-CP,
việc đăng ký xây dựng quyết định của Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh phải thực hiện theo quy chế
làm việc của Ủy
ban Nhân dân, nhằm đảm bảo tính pháp lý và thống nhất trong quá trình ban hành.
Để đảm bảo việc thu lệ phí trước
bạ từ ngày 1/1/2026, Cục Thuế đề nghị cơ quan Thuế các tỉnh, thành phố khẩn
trương báo cáo, tham mưu Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố chủ động phân công các đơn vị trực
thuộc xây dựng và trình Ủy ban Nhân dân ban hành Bảng giá tính lệ phí trước bạ ô tô, xe máy
mới áp dụng cho địa phương, đồng thời làm cơ sở để điều chỉnh, bổ sung định kỳ
theo đúng quy định pháp luật.
Cơ quan chuyên môn
thuộc Ủy
ban Nhân dân cấp tỉnh, cơ quan quân sự, công an tỉnh, thành
phố, cơ quan thuộc Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh tự mình hoặc theo chỉ
đạo của Ủy
ban Nhân dân, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh đăng ký xây dựng quyết định của Ủy ban Nhân dân quy định tại điểm
b và điểm c khoản 2 Điều 21 của Luật. Việc đăng ký xây dựng quyết định của Ủy ban Nhân dân thực hiện theo Quy chế làm việc của Ủy ban Nhân dân.
(Khoản 2 Điều 43 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP sửa đổi bởi khoản 24 Điều 1 Nghị định số 187/2025/NĐ-CP)