
Liên quan đến vấn đề trên, ông Nguyễn Ngọc Cường, Chuyên gia độc lập về Năng lượng tái tạo, cho rằng tâm lý phản ứng của người dân hoàn toàn dễ hiểu, song có sự nhầm lẫn về đối tượng quản lý. Thực chất đây là câu chuyện về truyền thông chưa rõ ràng và cách thức triển khai chính sách chưa phù hợp thực tiễn.
Trao đổi với VnEconomy, ông Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên Thường trực BCH Hiệp hội năng lượng Việt Nam, cho biết các hộ lắp đặt điện mặt trời mái nhà công suất vừa và nhỏ nếu không phát lên lưới thì không có căn cứ pháp lý gì để phạt. Đây là trang thiết bị trong gia đình, không phát lên lưới, do đó chế tài xử phạt, quản lý đối với các tổ chức, cá nhân sản xuất loại hình năng lượng này phải tách bạch, không nên “vơ đũa cả nắm”.
Cho rằng quan điểm “tự chủ năng lượng” khi lắp hệ thống hòa lưới là một ngộ nhận, ông Cường phân tích “Thực chất, hệ thống này chỉ giúp giảm sản lượng tiêu thụ, tiết kiệm chi phí, chứ không thay thế hoàn toàn điện lưới. Thực tế ở miền Bắc có đến hai, ba tháng mùa đông sương mù dày đặc, mặt trời không thể đáp ứng nhu cầu sử dụng điện, lúc đó hộ gia đình vẫn phải dựa vào điện lưới do EVN cung cấp. Vậy thì lấy gì làm cơ sở để nói là tự chủ năng lượng?
Theo ông Cường, chỉ những nơi biệt lập, đảo xa hay các khu sản xuất nông nghiệp nằm ngoài vùng điện lưới thì mới thực sự gọi là tự chủ. Còn khi đã sử dụng điện lưới, đã yêu cầu EVN kéo đường dây tới tận nhà để đảm bảo cung cấp liên tục thì không thể coi là tự chủ được.
Về lý thuyết, việc đăng ký là cần thiết, giúp cơ quan quản lý nắm được dữ liệu chính xác, từ đó vận hành hệ thống điện quốc gia ổn định và an toàn hơn.
Vậy, làm thế nào để tháo gỡ mâu thuẫn giữa quyền sản xuất của người dân và trách nhiệm đảm bảo an toàn hệ thống một cách hiệu quả?
“Điện mặt trời mái nhà có ý nghĩa lớn đối với an ninh năng lượng và phát triển bền vững, nhưng trước hết phải tách bạch hai đối tượng để quản lý”, ông Cường nhấn mạnh; đồng thời cho rằng muốn tháo gỡ, cần phân loại đối tượng theo quy mô.
Cụ thể, với hộ gia đình dưới 100 kWp, không nên bắt buộc đăng ký, mà sử dụng công cụ kỹ thuật như hệ thống công tơ đo xa để thống kê và giám sát. Từ 100 đến 1.000 kWp có thể yêu cầu các tiêu chuẩn cao hơn, ví dụ giám sát qua thiết bị, nhưng không nhất thiết phải điều khiển từ xa. Trên 1 MWp thì mới cần hệ thống SCADA phức tạp để giám sát và điều khiển, vì mức độ ảnh hưởng lớn đến lưới điện.
Tuy nhiên, việc thực thi hiện nay còn nhiều bất cập. Người dân thường không quan tâm đến thủ tục, trong khi các đại lý lắp đặt mới là người thay mặt đi làm hồ sơ. Chính vì thế, chính sách đúng nhưng triển khai lại phức tạp, gây khó khăn và dẫn tới phản ứng của xã hội.
Một vấn đề nữa là tính khả thi. Không thể kỳ vọng hàng trăm ngàn hộ gia đình đều hiểu và tuân thủ nghị định một cách triệt để. Thay vì yêu cầu người dân phải gửi giấy đăng ký, cơ quan quản lý hoàn toàn có thể dùng dữ liệu đo xa để tổng hợp, cho ra kết quả chính xác hơn nhiều. Do đó việc đăng ký là không cần thiết.
Thay vì đề xuất xử phạt - một cách làm vốn chẳng giải quyết được bài toán thực thi chính sách, các chuyên gia đề xuất nhiều giải pháp công nghệ hiện đại và khả thi hơn.
Trước hết, chuyên gia Nguyễn Ngọc Cường cho rằng ngoài ứng dụng công nghệ đo xa, cơ quan quản lý nên tính đến phương án thu một khoản chi phí ngay từ đầu, ví dụ thu tiền công tơ khi họ tiếp cận điện năng lần đầu áp dụng giá điện hai thành phần.
"Người dùng trả tiền không chỉ cho sản lượng tiêu thụ mà còn cho phần hạ tầng, giúp vận hành và cân đối lưới điện khi có biến động. Thực tế các cơ quan đã bắt đầu thử nghiệm cơ chế giá điện hai thành phần đối với hộ tiêu thụ lớn, còn nhiều nước khác thì đã áp dụng với cả hộ tiêu thụ nhỏ", ông Cường giải thích.
Với cơ chế giá điện 2 thành phần, những hộ không sử dụng điện mặt trời mái nhà thì không bị ảnh hưởng lớn đến tổng chi phí sử dụng điện năng. Còn những hộ tiêu thụ có lắp điện mặt trời tự sản tự tiêu thì việc áp dụng hai thành phần sẽ tự sinh ra cơ chế cân bằng giữa chi phí để tiếp cận điện năng và chi phí điện tiêu thụ.
Nếu áp dụng cả với hộ tiêu thụ điện nhỏ, phần giá cố định có thể thu qua "tiền công tơ" - thay thế cho cho phí quản lý, vận hành hạ tầng họ đang hưởng.
Đối với lo ngại về nguy cơ "quá tải lưới" khi nguồn từ điện mặt trời quá nhiều gây mất cân bằng phụ tải - hiện tượng được ví như "đường cong con vịt" xuất hiện ở California - giải pháp là phát triển hệ thống lưu trữ. Ông Cường đề xuất với doanh nghiệp quy mô lớn (C&I), nên quy định bắt buộc tối thiểu 10% công suất phải có lưu trữ, đủ để vận hành trong hai giờ. Ở miền Nam với điều kiện nắng tốt, thậm chí có thể có lộ trình yêu cầu tăng dần cao hơn, tới 20%.
"Đây là cách để chia sẻ gánh nặng với hệ thống điện quốc gia, hướng tới một thị trường điện mặt trời phát triển bền vững. Người dân thì không bắt buộc, nhưng nên khuyến khích đầu tư thêm lưu trữ để vừa có lợi cho bản thân, vừa giảm áp lực cho lưới điện", ông Cường nhấn mạnh.
Về cơ chế tổ chức thực thi, ông Phạm Ngọc Thạch, Phó Trưởng Ban pháp chế của VCCI, cũng có quan điểm "Không nên thủ tục hóa mọi thứ. Những khâu có thể chuẩn hóa thành dịch vụ công có thu - minh bạch về quy trình, thời hạn, mức phí thì nên làm". Điều này vừa tạo động lực cho bộ phận cung ứng dịch vụ cải thiện chất lượng, vừa giảm đất cho tiêu cực, lại giúp doanh nghiệp chủ động tính toán.
Bên cạnh đó, theo các chuyên gia, với những hộ lắp điện mặt trời nối lưới, quy định của EVN cũng cần phải được luật hóa và hướng dẫn người dân cụ thể từ khâu đăng ký, đến bước tiếp theo là xác nhận xử lý thế nào để không xảy ra tình trạng nhũng nhiễu, đồng thời đảm bảo tiến độ hồi đáp nhanh chóng kịp thời để người dân thuận tiện hưởng ứng, là những việc rất cần phải rõ ràng.
Thay vì tranh luận "có phạt hay không", hãy thiết kế cơ chế khiến tuân thủ trở thành lựa chọn rẻ và dễ nhất. Điều người dân cần là quy trình rõ - phản hồi nhanh - không nhũng nhiễu. Chế tài phải tách bạch đúng đối tượng. Khi ba mảnh ghép này khớp lại, chính sách sẽ đi vào đời sống, an toàn hệ thống được bảo đảm, quyền của người dân được tôn trọng, và động lực đầu tư năng lượng tái tạo sẽ được giải phóng một cách bền vững.
Biến động giá nhiên liệu đặt doanh nghiệp xăng dầu trước yêu cầu cân đối vốn nhập hàng, hàng tồn kho và lịch thanh toán. Sự kết nối giữa tín dụng và quản trị dòng tiền trở thành điểm tựa giúp doanh nghiệp chủ động duy trì nhịp kinh doanh.
Diễn đàn “Phát triển công nghiệp dầu khí Việt Nam: Đảm bảo tăng trưởng bền vững” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy – Vietnam Economic Times tổ chức sẽ diễn ra chiều 29/10/2026 tại Trung tâm hội nghị BMC, tầng 11, Tòa nhà V.E.T Building, 98 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt để ngành nông nghiệp và môi trường nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng. Tuy nhiên, sản xuất còn phân tán, công nghệ bảo quản, chế biến sâu hạn chế, dữ liệu chưa liên thông đang cản trở tăng trưởng. Tháo gỡ những điểm nghẽn này đòi hỏi tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhà trường...
Mỗi sáng kiến dù nhỏ, nếu được áp dụng hiệu quả và được chia sẻ, nhân rộng, sẽ tạo nên nguồn lực đổi mới mạnh mẽ…
Làn sóng điều tra phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp trên toàn cầu đang gia tăng mạnh mẽ. Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Canada, Ấn Độ, Mexico và Australia đang đứng trước nguy cơ cao bị đưa vào diện điều tra, theo dõi hoặc áp thuế...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Thảo luận Luật Nhà ở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội cho rằng, đối với các dự án nhà ở cho thuê do Nhà nước đầu tư để dẫn dắt thị trường thì cần yêu cầu công khai đầy đủ cấu phần giá thành gồm chi phí đất, xây dựng, tài chính, quản lý, vận hành, bảo trì và các khoản chi phí hợp pháp khác. Việc công khai này giúp hình thành mặt bằng tham chiếu đáng tin cậy cho thị trường...