
Bộ Khoa học và Công nghệ đang lấy ý kiến của nhân dân đối với dự thảo này trên cổng thông tin điện tử của Bộ. Theo đó, dự thảo đề xuất các tiêu chí dự án đầu tư ứng dụng công nghệ cao để sản xuất sản phẩm công nghệ cao.
Cụ thể, dự án đầu tư ứng dụng công nghệ cao để sản xuất sản phẩm công nghệ cao phải phải đáp ứng các nguyên tắc và tiêu chí quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 28 và các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 32 Nghị định của Chính phủ quy định về khu công nghệ cao, đồng thời đáp ứng các tiêu chí:
Một là, doanh thu từ sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được khuyến khích phát triển ban hành kèm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phải đạt ít nhất 70% trong tổng doanh thu thuần hằng năm của dự án đầu tư.
Hai là, số lượng người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề chiếm ít nhất 75% tổng số người lao động của dự án đầu tư.
Ba là, số lượng người lao động tham gia hoạt động nghiên cứu và phát triển của dự án đầu tư thuộc một trong các trường hợp sau:
Dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 6.000 tỷ đồng trở lên thì số lượng người lao động có trình độ từ cao đẳng trở lên trực tiếp tham gia hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ, triển khai thực nghiệm, sản xuất thử nghiệm trên tổng số người lao động của dự án đầu tư phải đạt ít nhất 1% đồng thời không thấp hơn 30 người.
Dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 100 tỷ đồng đến dưới 6.000 tỷ đồng thì số lượng người lao động có trình độ từ cao đẳng trở lên trực tiếp tham gia hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ, triển khai thực nghiệm, sản xuất thử nghiệm trên tổng số người lao động của dự án đầu tư phải đạt ít nhất 2,5% đồng thời không thấp hơn 15 người.
Dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư dưới 100 tỷ đồng thì số người lao động có trình độ từ cao đẳng trở lên trực tiếp tham gia hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ, triển khai thực nghiệm, sản xuất thử nghiệm trên tổng số người lao động của dự án đầu tư phải đạt ít nhất 5% đồng thời không thấp hơn 10 người.
Số người lao động có trình độ cao đẳng theo quy định tại khoản này không vượt quá 30% tổng số người lao động trực tiếp tham gia hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ, triển khai thực nghiệm, sản xuất thử nghiệm của dự án đầu tư.
Bốn là, chi phí hoạt động nghiên cứu và phát triển hằng năm của dự án đầu tư thuộc một trong các trường hợp sau:
Dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 6.000 tỷ đồng trở lên thì phải đạt ít nhất 0,5% của phần giá trị gia tăng tạo ra của dự án đầu tư.
Dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 100 tỷ đồng đến dưới 6.000 tỷ đồng thì phải đạt ít nhất 1% của phần giá trị gia tăng tạo ra của dự án đầu tư.
Dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư dưới 100 tỷ đồng thì phải đạt ít nhất 2% của phần giá trị gia tăng tạo ra của dự án đầu tư.
Giá trị gia tăng tạo ra của dự án đầu tư theo quy định tại khoản này được tính bằng tổng doanh thu thuần trừ đi giá trị đầu vào (là giá trị nguyên vật liệu, linh kiện phục vụ sản xuất nhập khẩu và mua nội địa).
Năm là, dây chuyền công nghệ của dự án đầu tư phải đạt trình độ tiên tiến và được điều khiển theo chương trình. Các thiết bị chính trong dây chuyền công nghệ được cập nhật các công nghệ mới trong lĩnh vực hoạt động của dự án đầu tư cách thời điểm đầu tư không quá 5 năm.
Việt Nam tăng 5 bậc, lên vị trí 50 trong bảng xếp hạng hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu năm 2026, trong đó TP. Hồ Chí Minh lần đầu góp mặt trong nhóm 100 hệ sinh thái khởi nghiệp hàng đầu thế giới...
Kinh tế tầm thấp và kinh tế không gian vũ trụ đang mở ra không gian phát triển mới, nhưng để biến tiềm năng thành giá trị kinh tế thực sự, Việt Nam cần đồng thời giải bài toán về công nghệ, thể chế, hạ tầng, nhân lực và thị trường. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy ghi nhận những góc nhìn, kiến nghị từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu tại đối thoại “Phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp tại Việt Nam”, qua đó góp phần hoàn thiện hệ sinh thái này.
Kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp, dù được xem là những động lực tiềm năng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế, nhưng cũng đang vướng không ít điểm nghẽn. Nếu không sớm được tháo gỡ, Việt Nam sẽ không chỉ khó phát triển và khai thác đầy đủ tiềm năng của lĩnh vực này mà còn có nguy cơ tụt lùi so với cuộc chạy đua “thần tốc” của thế giới trong lĩnh vực này...
Các sản phẩm công nghệ cao, trong đó có các phương tiện bay không người lái (UAV) và công nghệ không gian vũ trụ (vệ tinh…), nếu không có “bàn tay” tạo dựng thị trường ban đầu của Nhà nước cho các sản phẩm mới, thì những lĩnh vực được xem là động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế sẽ khó có “đất dụng võ” và các doanh nghiệp sẽ không dám đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu, sản xuất...
Kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp đang được nhiều quốc gia xác định là những động lực tăng trưởng mới trong quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Không chỉ tạo ra các ngành công nghiệp công nghệ cao có giá trị gia tăng lớn, hai lĩnh vực này còn góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng thông qua nâng cao năng suất lao động, tối ưu hóa chuỗi cung ứng và mở rộng các thị trường dịch vụ số...
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Quy định cơ chế ủy quyền, giao thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan điều tra cho Trưởng, Phó trưởng công an cấp xã… có thể dẫn đến tình trạng thẩm quyền phân tán nhưng trách nhiệm khó kiểm soát. Thậm chí, điều này có thể vô hình chung làm hình thành thêm hơn 3.000 cơ quan điều tra ở cấp xã.