Nhận diện những điểm nghẽn kinh tế tầm thấp cần tháo gỡ

Kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp, dù được xem là những động lực tiềm năng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế, nhưng cũng đang vướng không ít điểm nghẽn. Nếu không sớm được tháo gỡ, Việt Nam sẽ không chỉ khó phát triển và khai thác đầy đủ tiềm năng của lĩnh vực này mà còn có nguy cơ tụt lùi so với cuộc chạy đua “thần tốc” của thế giới trong lĩnh vực này...

Đối thoại “Phát triển kinh tế hàng không vũ trụ, kinh tế tầm thấp tại Việt Nam” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức.
Đối thoại “Phát triển kinh tế hàng không vũ trụ, kinh tế tầm thấp tại Việt Nam” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức.

Hàng loạt rào cản, vướng mắc về thể chế, hạ tầng, công nghệ và thị trường trong lĩnh vực kinh tế tầm thấp, kinh tế không gian vũ trụ đã được lãnh đạo doanh nghiệp, trung tâm nghiên cứu, các chuyên gia và nhà quản lý chỉ ra tại Đối thoại “Phát triển kinh tế hàng không vũ trụ, kinh tế tầm thấp tại Việt Nam” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức mới đây.

Là đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ đặc thù, Trung tâm Vũ trụ Việt Nam có một số điều kiện thuận lợi trong quá trình triển khai nhiệm vụ, song cũng gặp nhiều khó khăn do tính chất mới, phức tạp và liên ngành của lĩnh vực hàng không vũ trụ.

KHÓ TỪ KHÔNG GIAN VŨ TRỤ ĐẾN KINH TẾ TẦM THẤP

Tiến sĩ Lê Xuân Huy, Phó Giám đốc Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, cho rằng trong quá trình phát triển, Trung tâm gặp phải không ít vướng mắc, khó khăn, một số cơ chế hiện hành cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện để phù hợp hơn với đặc thù của lĩnh vực này.

Thứ nhất, vấn đề tài chính và đánh giá hiệu quả đầu tư. Đối với các dự án vệ tinh, hiệu quả không chỉ thể hiện ở nguồn thu trực tiếp từ việc cung cấp dữ liệu, hình ảnh vệ tinh mà còn bao gồm nhiều lợi ích gián tiếp như phục vụ phòng, chống thiên tai, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển các ngành kinh tế khác.

Tuy nhiên, các lợi ích gián tiếp này thường khó lượng hóa đầy đủ thành giá trị tài chính. Đối với các dự án sử dụng vốn vay ODA, yêu cầu về đánh giá hiệu quả đầu tư, khả năng bố trí nguồn vốn và thực hiện các nghĩa vụ tài chính liên quan cũng đặt ra những yêu cầu chặt chẽ hơn. Vì vậy, việc xây dựng phương pháp đánh giá đầy đủ hiệu quả kinh tế - xã hội đối với các sản phẩm công nghệ đặc thù như vệ tinh hoặc thiết bị bay không người lái vẫn là một vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.

Thứ hai, các thủ tục pháp lý liên quan đến viễn thông, tần số và khai thác hệ thống vệ tinh. Về bản chất kỹ thuật, một vệ tinh và trạm mặt đất cũng hình thành các tuyến thông tin vô tuyến và do đó phải thực hiện các thủ tục quản lý có liên quan theo quy định. Trong thực tế triển khai, Trung tâm phải thực hiện nhiều thủ tục khác nhau, từ thiết lập mạng viễn thông dùng riêng, cấp phép sử dụng tần số đến các thủ tục phối hợp tần số và quỹ đạo có liên quan.

Như vậy, riêng việc đăng ký hệ thống mạng viễn thông dùng riêng cho vệ tinh mất đã khoảng hai năm. Với một hệ thống vệ tinh, toàn bộ quá trình chuẩn bị và hoàn thiện các thủ tục này có thể kéo dài, nhất là khi phải phối hợp giữa nhiều cơ quan trong nước và quốc tế.

Thứ ba, hoạt động mua sắm và đấu thầu đối với các dịch vụ đặc thù của lĩnh vực không gian vũ trụ. Chẳng hạn, thị trường dịch vụ phóng vệ tinh trên thế giới có số lượng nhà cung cấp đủ năng lực không nhiều, trong khi nhu cầu phóng ngày càng lớn và lịch phóng thường phải được đặt trước trong thời gian dài. Do đó, việc áp dụng các quy trình lựa chọn nhà cung cấp theo phương thức thông thường có thể gặp khó khăn trong một số trường hợp, đặc biệt khi số lượng nhà cung cấp đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, tiến độ và khả năng tương thích với vệ tinh là rất hạn chế.

Tương tự, đối với bảo hiểm vệ tinh, đây là thị trường chuyên biệt với số lượng doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm có khả năng nhận loại rủi ro này tương đối hạn chế. Thông lệ của thị trường quốc tế thường đòi hỏi chủ đầu tư, nhà môi giới và các doanh nghiệp bảo hiểm phải trao đổi kỹ thuật, đánh giá rủi ro và thăm dò khả năng nhận bảo hiểm trước khi hình thành phương án bảo hiểm.

Trong khi đó, việc triển khai bằng nguồn vốn nhà nước vẫn phải tuân thủ các quy định về mua sắm, đấu thầu và quản lý tài chính. Vì vậy, thách thức đặt ra là xây dựng được quy trình vừa bảo đảm tính công khai, minh bạch và tuân thủ pháp luật, vừa phù hợp với cách thức vận hành của thị trường bảo hiểm hàng không vũ trụ quốc tế.

Công ty cổ phần Đầu tư và Công nghệ HTI là một trong những doanh nghiệp đi đầu trong nghiên cứu, phát triển và sản xuất máy bay không người lái ở Việt Nam. Ông Tạ Ngọc Thanh, Giám đốc Công ty HTI UAS - đơn vị phụ trách hoạt động nghiên cứu, sản xuất UAV của HTI - cho biết để được cấp phép nghiên cứu, sản xuất, chế tạo, bảo trì, bảo dưỡng UAV, doanh nghiệp phải đáp ứng rất nhiều tiêu chuẩn.

Trong đó, doanh nghiệp phải có thiết kế, có UAV mẫu và cung cấp đầy đủ các thông số, thông tin liên quan đến mẫu UAV đó, bao gồm cả việc UAV đáp ứng các tiêu chuẩn như thế nào. Nhưng muốn có được những thông tin và hồ sơ đó thì trước hết phải nghiên cứu, kiểm thử và bay thử. Trong khi đó, muốn bay thử thì lại phải có giấy phép, mà việc có giấy phép bay là điều vô cùng khó khăn.

Hiện tại chưa có tiêu chuẩn đánh giá về việc thế nào là một UAV đủ tiêu chuẩn tại Việt Nam, mà chủ yếu tham chiếu theo tiêu chuẩn của châu Âu, Mỹ hoặc Trung Quốc, đáp ứng được tiêu chuẩn nào thì áp dụng tiêu chuẩn đó.

Bên cạnh đó, việc đi đăng kiểm sản phẩm cũng khá phức tạp do chưa có hướng dẫn cụ thể, chi tiết và chính xác để áp dụng. Vì vậy, không chỉ tiêu chuẩn mà các cơ chế liên quan đến chuỗi cung ứng và nhiều vấn đề khác cũng đang thiếu ngay từ nền tảng ban đầu. Theo đại diện HTI UAS, đối với vấn đề chính sách, rất cần các cơ quan quản lý nhà nước có những hướng dẫn chi tiết, cụ thể hơn để doanh nghiệp có thể triển khai trên thực tế.

"ĐÓI" KHU THỬ NGHIỆM

Đối với lĩnh vực kinh tế tầm thấp, đặc biệt là máy bay không người lái, khu vực thử nghiệm sản phẩm (test sản phẩm) trước khi sản phẩm được hoàn thiện và thương mại hóa có vai trò quan trọng. Tuy nhiên hiện nay, thị trường đang “đói” khu thử nghiệm, khiến doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất ra sản phẩm nhưng lại không có nơi (có phép) để thử nghiệm.

Đại tá, PGS.TS. Nguyễn Huy Hoàng, Học viện Kỹ thuật Quân sự, cho biết một trong những điểm nghẽn hiện nay là nhiều doanh nghiệp Việt Nam có đủ khả năng làm ra thiết bị nhưng lại bị chậm trong việc sản xuất, bởi phải giải quyết quá nhiều thủ tục hành chính trong nội dung xin giấy phép đủ điều kiện sản xuất. Điều đó dẫn tới chậm các tiến độ thực hiện ký hợp đồng với đối tác, đồng thời Việt Nam thiếu các khu vực bay thử nghiệm có quy mô đủ để đánh giá tính an toàn kỹ thuật trước khi thương mại hóa các sản phẩm mà liên quan tới hàng không vũ trụ và phương tiện bay không người lái.

VnEconomy

Hiện nay, Việt Nam đang dần chuyển từ quản trị thiết bị sang quản trị theo mức độ rủi ro. Bởi thực tế việc quản lý thiết bị bay UAV nhỏ và phun thuốc ở trên những cánh đồng sẽ không thể nào áp dụng quy định đối với thiết bị UAV bay ngoài tầm nhìn hoặc thiết bị hoạt động ở những khu vực đông người. Thực tế hiện nay, việc quản lý thiết bị bay do doanh nghiệp Việt Nam sản xuất “chặt” tương đương với thiết bị thương mại. Thiết bị nhập khẩu từ nước ngoài về khi có giấp phép khả phi - giấy phép bay là có thể bay được ngay.

Ông Nguyễn Văn Thuật, Ô Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế số và Xã hội số, Bộ Khoa học và Công nghệ

“Việt Nam đã có Luật Phòng không nhân dân, các nghị định, thông tư liên quan tới tàu bay không người lái và phương tiện bay khác, nhưng vẫn cần một chiến lược quốc gia tổng thể dành riêng cho kinh tế tầm thấp. Đặc biệt hiện nay đang thiếu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát sandbox cho các mô hình ứng dụng của phương tiện bay không người lái. Điều này đang khiến các doanh nghiệp gặp khó trong việc chứng minh hiệu quả cũng như thu hút dòng vốn đầu tư và đưa sản phẩm ra thị trường”, ông Hoàng cho biết.

Trong bối cảnh lĩnh vực kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp đang được nhiều quốc gia đầu tư và thay đổi nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần nhanh chóng có những chính sách (như: triển khai các khuôn khổ thử nghiệm có kiểm soát đối với các loại tàu bay do các đơn vị trong nước tự nghiên cứu và phát triển; miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu, vật tư, linh kiện, thiết bị phục vụ nghiên cứu, chế tạo sản phẩm công nghệ nghiệp hàng không, vũ trụ; miễn trừ trách nhiệm khi gây ra thiệt hại dù tuân thủ đúng quy định…) để các doanh nghiệp Việt Nam có thể bắt nhịp được với lĩnh vực quan trọng và đang thay đổi nhanh chóng như kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp.

Theo PGS.TS. Nguyễn Huy Hoàng, Việt Nam cần sớm ban hành hành lang pháp lý cởi mở cho kinh tế tầm thấp và triển khai ngay các khu vực bay thử nghiệm cũng như thiết lập hạ tầng quản lý không lưu quốc gia UTM. Có như vậy mới tháo gỡ được những khó khăn, vướng mắc mà các doanh nghiệp cũng như các đơn vị nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế tầm thấp đang gặp phải.

Ngoài ra, trong các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cần thiết lập danh mục các hoạt động được phép thử nghiệm là bay, như bay ngoài tầm nhìn trực tiếp, các vấn đề về hậu cần kỹ thuật, quy trình cấp phép nhanh chóng trong thời hạn xác định cũng như tiêu chuẩn an toàn tối thiểu và nghĩa vụ chia sẻ dữ liệu bay. Đồng thời, phải xây dựng cơ chế để quản trị rủi ro, một số đặc thù của phương tiện định thử nghiệm có tính phức tạp, mức độ nguy hiểm và thậm chí phải mua bảo hiểm cho các hoạt động này.

GIẢI QUYẾT ĐIỂM NGHẼN TRÊN BA PHƯƠNG DIỆN

Dưới góc độ quản lý nhà nước, ông Nguyễn Văn Thuật, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế số và Xã hội số, Bộ Khoa học và Công nghệ, cũng thẳng thắn nhìn nhận điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là chưa hình thành được một kiến trúc quản trị thống nhất đối với kinh tế không gian tầm thấp – một không gian rất mới. Điều này cũng đến từ lý do: kinh tế không gian tầm thấp là phần giao điểm của rất nhiều lĩnh vực khác nhau của quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ, hàng không, tần số vô tuyến điện, rất nhiều lĩnh vực.

Theo ông Thuật, các điểm nghẽn hiện nay đối với lĩnh vực kinh tế không gian tầm thấp trên ba phương diện.

Một là, mô hình quản trị quốc gia. Hiện nay, Việt Nam đang dần chuyển từ quản trị thiết bị sang quản trị theo mức độ rủi ro. Bởi thực tế việc quản lý thiết bị bay UAV nhỏ và phun thuốc ở trên những cánh đồng sẽ không thể nào áp dụng quy định đối với thiết bị UAV bay ngoài tầm nhìn hoặc thiết bị hoạt động ở những khu vực đông người.

Thực tế hiện nay, việc quản lý thiết bị bay do doanh nghiệp Việt Nam sản xuất “chặt” tương đương với thiết bị thương mại. Thiết bị nhập khẩu từ nước ngoài về khi có giấp phép khả phi - giấy phép bay là có thể bay được ngay. Tuy nhiên, đối với thiết bị bay mà doanh nghiệp Việt Nam sản xuất trong nước, việc đánh giá chất lượng, tiêu chuẩn ra sao, ai là người đánh giá, công bố, ai là người xác nhận thiết bị bay đủ chất lượng bay hay không… đang là những vướng mắc, khó khăn của các doanh nghiệp UAV tại Việt Nam.

Hai là, liên quan đến hạ tầng số, cụ thể là hệ thống quản lý bay (UTM). Trong kinh tế không gian tầm thấp, thứ không nhìn thấy như UTM mới là trái tim của hạ tầng số của kinh tế tầm thấp. Nếu chỉ có một số thiết bị bay trên bầu trời sẽ rất khác với nhiều thiết bị bay, khi đó không thể sử dụng phương thức quản lý truyền thống để quản lý mà phải có những phương tiện, công cụ quản lý một cách tự động do thuật toán quản lý.

Ba là, môi trường thử nghiệm. Hiện nay Việt Nam đang rất thiếu không gian thử nghiệm cho hoạt động kinh tế không gian tầm thấp. Đến thời điểm hiện tại, cơ chế sandbox đối với lĩnh vực kinh tế tầm thấp được triển khai tại Điện Biên – cũng là tỉnh đầu tiên có sandbox về kinh tế tầm thấp, được thiết kế theo hướng miễn trừ hoặc giảm mức độ quản lý đối với những doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này.

Theo đó, trong phạm vi thử nghiệm thì doanh nghiệp có thể được miễn trừ hoặc áp dụng linh hoạt đối với 2/6 điều kiện bay tối thiểu và giảm 60/69 yêu cầu thử nghiệm về vô tuyến điện, tương thích điện tử theo quy định Thông tư 39 của Bộ Quốc phòng.

Ngoài ra, trong sandbox, 100% chuyến bay phải được lập kế hoạch, giám sát, lưu vết và báo cáo theo một kiến trúc dữ liệu thống nhất. Những dữ liệu này sẽ giúp Nhà nước đánh giá được mức độ an toàn, hiệu quả kinh tế, tiêu chuẩn và những quy định có thể được đơn giản hóa.

Ông Thuật cho rằng việc xây dựng thể chế đối với lĩnh vực kinh tế tầm thấp là công việc của chung của nhiều bộ, ngành chứ không phải riêng của Bộ Khoa học và Công nghệ. Trong quá trình xây dựng thể chế, Bộ Khoa học và Công nghệ đã nghiên cứu và đề xuất mô hình quản lý đối với những thiết bị và đang đề xuất quản lý theo hai luồng. Một luồng là đối với những thiết bị thương mại hóa, theo đó phải đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, các tiêu chuẩn quy chuẩn theo quy định.

Luồng thứ hai là những thiết bị đang trong quá trình thử nghiệm...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 34-2026 phát hành ngày 24/08/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-34-2026.html

VnEconomy

Tìm thị trường cho kinh tế không gian, kinh tế tầm thấp

Các sản phẩm công nghệ cao, trong đó có các phương tiện bay không người lái (UAV) và công nghệ không gian vũ trụ (vệ tinh…), nếu không có “bàn tay” tạo dựng thị trường ban đầu của Nhà nước cho các sản phẩm mới, thì những lĩnh vực được xem là động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế sẽ khó có “đất dụng võ” và các doanh nghiệp sẽ không dám đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu, sản xuất...

Kinh tế không gian: Thế giới chạy đua và bài học cho Việt Nam

Kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp đang được nhiều quốc gia xác định là những động lực tăng trưởng mới trong quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Không chỉ tạo ra các ngành công nghiệp công nghệ cao có giá trị gia tăng lớn, hai lĩnh vực này còn góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng thông qua nâng cao năng suất lao động, tối ưu hóa chuỗi cung ứng và mở rộng các thị trường dịch vụ số...

Dư địa tăng trưởng GDP từ kinh tế tầm thấp

Trong bối cảnh các không gian tăng trưởng truyền thống ngày càng chịu nhiều giới hạn, việc mở rộng sang không gian tầm thấp không chỉ đơn thuần là tìm kiếm một thị trường mới, mà còn là mở thêm một “không gian kinh tế” để tạo ra nguồn lực, việc làm, công nghệ và giá trị gia tăng mới cho nền kinh tế...

Việt Nam đề xuất kết nối VNeID với SINGPASS

“Đây không chỉ là câu chuyện về một nền tảng công nghệ. Đây là tầm nhìn chiến lược, là câu chuyện về kết nối hai quốc gia trong một không gian số chung, tiến đến kết nối trong toàn khối ASEAN”...

Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy