“Việt Nam đang ngày càng phát triển theo hướng ổn định và nhanh chóng. Song hành với quá trình đó là nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng trong nhiều năm qua. Đặc biệt, khi Việt Nam tiếp tục đặt ra những mục tiêu đầy tham vọng nhằm trở thành một nền kinh tế thu nhập cao, công nghệ cao và xanh trong 2-3 thập kỷ tới, nhu cầu về năng lượng dự kiến sẽ tiếp tục tăng mạnh mẽ.
Nhu cầu này cùng với yêu cầu phát triển hạ tầng năng lượng và tăng khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên năng lượng sẽ tiếp tục đưa Việt Nam trở thành một điểm đến rất hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài, dù là đầu tư vào thị trường vốn của Việt Nam hay đầu tư trực tiếp vào hạ tầng năng lượng.
Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) thực sự có một số nội dung rất quan trọng và đáng chú ý. Tôi rất mong chờ được chứng kiến quá trình hoàn thiện tiếp theo của dự thảo luật này.
Việc Việt Nam ban hành những quy định tốt là điều đáng mừng. Tuy nhiên, nếu các quy định đó không được áp dụng một cách minh bạch, nhất quán và nếu nhà đầu tư không thể tin tưởng rằng họ sẽ được đối xử giống nhau cho một chiến lược đầu tư dài hạn, thì những quy định đó sẽ khó đạt được mục tiêu.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần phải tận dụng hạ tầng, năng lực kỹ thuật và nguồn nhân lực hiện có trong lĩnh vực dầu khí để khai thác đầy đủ những nguồn lực mới như thu hồi và lưu trữ carbon, điện gió, đặc biệt là điện gió ngoài khơi và điện mặt trời. Đây sẽ là những yếu tố then chốt để tiếp tục tích hợp các nguồn năng lượng mới và hiện có.
Với tư cách là thành viên Hội đồng Cố vấn Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC), tôi cho rằng việc phát triển ngành năng lượng Việt Nam sẽ không thể thực hiện được nếu không có khả năng tiếp cận nguồn vốn đáng kể.
Hiện nay, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhờ những nỗ lực của các ngân hàng trong nước. Tuy nhiên, rõ ràng nguồn lực này sẽ không đủ để đáp ứng những tham vọng rất lớn của Việt Nam trong 2-3 thập kỷ tới, đó là trở thành một nền kinh tế thu nhập cao, công nghệ cao và xanh.
Do vậy, tôi cho rằng đây chính là thời điểm quan trọng để nguồn vốn quốc tế phát huy vai trò. Những nỗ lực của VIFC có thể giúp huy động một nguồn vốn rộng lớn hơn để đáp ứng nhu cầu phát triển hạ tầng và năng lượng của Việt Nam trong thời gian tới từ các nhà đầu tư tổ chức, các nhà đầu tư chiến lược lớn, quỹ hạ tầng, ngân hàng quốc tế, quỹ hưu trí.
Về cơ bản, mục tiêu là kết nối các nguồn vốn quốc tế này với những dự án năng lượng đang được triển khai hoặc đang trong quá trình chuẩn bị. Tuy nhiên, VIFC sẽ không chỉ là nơi thu hút vốn đầu tư. Nguồn vốn đầu tư cũng sẽ là một phương thức giúp phát triển một hệ sinh thái tài chính, trong đó các sản phẩm và công cụ tài chính mới như tài chính xanh có thể được phát triển; các ý tưởng nhằm quản lý và chia sẻ rủi ro có thể được triển khai; và những công cụ tài trợ dự án mới có thể được hình thành. Tất cả những điều này có thể diễn ra trong khuôn khổ của VIFC, không nhất thiết chỉ trong phạm vi vật lý mà còn trong khuôn khổ về quy định và định hướng hoạt động”.
“Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) đã có những bước tiến đáng kể, với việc đơn giản hóa nhiều thủ tục, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, hoàn thiện cơ chế hợp đồng và mở rộng khuôn khổ pháp lý sang những lĩnh vực mới như thu hồi và lưu trữ carbon (CCS), năng lượng ngoài khơi, dịch vụ kỹ thuật cao, cũng như các mỏ cận biên, mỏ cuối đời. Theo tôi, đây là những thay đổi kịp thời, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của môi trường đầu tư.
Tuy nhiên, những chính sách ưu đãi mới chỉ là điều kiện cần để thu hút dòng vốn. Với nhà đầu tư quốc tế, có ba yếu tố đặc biệt quan trọng trong quyết định đầu tư, gồm: tính minh bạch trong thực thi; khả năng dự báo của chính sách; tốc độ ra quyết định, triển khai dự án. Đây cũng là những tiêu chí quyết định việc nhà đầu tư lựa chọn Việt Nam hay một quốc gia khác trong khu vực.
Một dự án có tính khả thi về tài chính không chỉ cần ưu đãi tốt, mà còn phải chứng minh được khả năng tạo dòng tiền trong 10-15 năm, có hành lang pháp lý ổn định và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư khi chính sách thay đổi. Vì vậy, câu hỏi đặt ra không chỉ là làm thế nào để dự án được cấp phép, mà là toàn bộ hành trình của dự án từ khi được quyền triển khai, thực hiện thủ tục đầu tư, cấp phép, ký hợp đồng, huy động vốn, xây dựng, vận hành, hình thành doanh thu cho đến khi thoái vốn có được bảo đảm về pháp lý hay không.
Trong toàn bộ hành trình đó, một dự án năng lượng có thể đồng thời chịu sự điều chỉnh của Luật Dầu khí, Luật Điện lực, Luật Xây dựng, pháp luật về đầu tư, đất đai, môi trường, quy hoạch, cơ chế giá điện và nhiều quy định chuyên ngành khác. Nếu được chọn một điều cần thay đổi để dòng vốn thực sự đi vào dự án, tôi sẽ chọn việc các đạo luật, quy định này phải thống nhất với nhau.
Theo tôi, đây là điểm nghẽn có thể quyết định hiệu quả của một cuộc cải cách thể chế. Một đạo luật có thể được thiết kế rất thông thoáng, nhưng nếu các luật liên quan vẫn tồn tại những quy định chồng chéo hoặc không tương thích thì doanh nghiệp vẫn có thể gặp khó khăn trong quá trình triển khai. Khi đó, điều kiện cần đã có nhưng dòng vốn chưa chắc đã được giải ngân.
Trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng diễn ra mạnh mẽ, nhu cầu vốn sẽ không chỉ tập trung vào các nguồn điện truyền thống mà còn mở rộng sang LNG, năng lượng tái tạo, công nghệ thu hồi và lưu trữ carbon (CCUS), điện gió ngoài khơi và nhiều công nghệ mới. Việt Nam đang đứng trước cơ hội hình thành nhiều hệ sinh thái mới, từ tài chính, kinh tế biển, tài chính hàng hải, hàng không đến trung tâm tài chính quốc tế. Vấn đề chung của các hệ sinh thái này là làm thế nào huy động được nguồn vốn lớn cho giai đoạn tăng trưởng mới.
Trong thập kỷ tới, Việt Nam có thể cần khoảng 1,5 nghìn tỷ USD vốn đầu tư cho tất cả các ngành, trong đó năng lượng và hạ tầng là hai lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn rất lớn. Vì vậy, cải cách thể chế trong lĩnh vực năng lượng cần được đặt trong tổng thể cải cách chính sách rộng hơn, với mục tiêu cuối cùng là tạo dựng một môi trường đủ minh bạch, có khả năng dự báo và đủ nhanh để dòng vốn quốc tế lựa chọn Việt Nam”.
“Khi nhìn vào bức tranh chung của các nước trong khu vực, đặc biệt là Đông Nam Á, Việt Nam đang đi sau trong cuộc chơi, nhất là về công nghệ thu hồi và lưu giữ carbon (CCUS). Chẳng hạn như tại Malaysia, đã có rất nhiều dự án thu hồi và lưu giữ (CCS) đang được hình thành. Indonesia cũng đang triển khai nhiều dự án trong lĩnh vực này.
Những dự án đó không chỉ được dẫn dắt bởi các tập đoàn dầu khí quốc gia như Pertamina (Indonesia) hay Petronas (Malaysia) mà còn có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp thông qua các liên doanh, như ExxonMobil trong một số dự án lớn tại Indonesia.
Với Việt Nam, điều quan trọng là việc sở hữu tiềm năng lớn từ các mỏ dầu khí đang dần cạn kiệt. Đó là một lợi thế không phải quốc gia nào cũng có. Tuy nhiên, chỉ có tiềm năng thôi thì chưa đủ, Việt Nam cần xây dựng những cơ chế phù hợp để thu hút đầu tư và khai thác được tiềm năng này. Đây là điều Việt Nam cần xem xét.
Luật Dầu khí (sửa đổi) sẽ là một tiền đề rất tốt để Việt Nam khai thác tối đa tiềm năng và có thể đi nhanh hơn để bắt kịp các nước trong khu vực, đặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á.
Một điểm quan trọng khác trong chiến lược của Việt Nam là việc cần tiếp tục mở rộng sang lĩnh vực điện năng, năng lượng tái tạo, bao gồm cả điện gió. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để phát triển ngành trong tương lai.
Tôi nghĩ rằng Việt Nam cần bao quát toàn bộ các lĩnh vực từ dầu khí, điện năng, hạ tầng đến các lĩnh vực liên quan, đồng thời xây dựng cả hệ sinh thái EPC (thiết kế – cung ứng vật tư thiết bị – thi công xây dựng), tức là mở rộng sang lĩnh vực dịch vụ EPC. Tất cả những lĩnh vực này cần được mở rộng một cách xuyên suốt”.
“Luật Dầu khí lần này được sửa đổi trong một bối cảnh hoàn toàn mới. Nếu từ năm 1993, luật tồn tại trong một thời gian khá dài mới được sửa đổi thì hiện nay, tốc độ thay đổi đã nhanh hơn rất nhiều. Vấn đề không còn chỉ nằm ở bản thân luật cần thay đổi, mà xuất phát từ bối cảnh mới của nền kinh tế, những yêu cầu và mục tiêu phát triển mới của đất nước, cùng với những biến động rất nhanh của thế giới. Đặc biệt, trong lĩnh vực dầu khí, các cuộc chiến tranh, xung đột đang tác động trực tiếp đến an ninh năng lượng của các quốc gia. Càng nhìn vào những biến động đó, tôi càng thấy rõ sự cần thiết phải thay đổi.
Điểm khác biệt của lần sửa đổi này còn nằm ở chỗ Luật Dầu khí được đặt trong tổng thể một loạt nghị quyết mới về phát triển doanh nghiệp tư nhân, đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước. Dầu khí có thể nói là một lĩnh vực điển hình về vai trò của doanh nghiệp nhà nước. Trước đây là Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, nay là Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam). Trong bối cảnh mới, doanh nghiệp cần được phát huy tối đa quyền chủ động trong đầu tư, sản xuất và kinh doanh, trong khi Nhà nước tập trung vào xây dựng hành lang pháp lý, tiêu chuẩn, quy chuẩn và cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát.
Luật Dầu khí có tính đặc thù, vừa phải đáp ứng yêu cầu phát triển, vừa phải phù hợp với thực tế. Trong nhiều năm, Petrovietnam vừa thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh, vừa đảm nhiệm phần nào vai trò thay mặt Nhà nước, thay mặt nước chủ nhà để quản lý, điều phối và trực tiếp thực hiện các hoạt động hợp tác đầu tư, kinh doanh. Đến nay, vai trò của doanh nghiệp đang được đẩy mạnh và đề cao hơn.
Theo tôi, nếu dự thảo Luật tạo điều kiện tối đa trong phạm vi cho phép để Petrovietnam chủ động đầu tư và phát triển thì đó là hướng đi phù hợp. Đồng thời, cách tiếp cận này cũng sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân, các thành phần kinh tế khác và nhà đầu tư nước ngoài tham gia sâu hơn vào hoạt động dầu khí, qua đó tăng tính chủ động và tính thị trường.
Một vấn đề nhức nhối của Việt Nam trong nhiều năm qua là pháp luật thường chậm, không theo kịp thực tế, thậm chí có những quy định bất cập, mâu thuẫn hoặc xung đột với thực tiễn. Trước đây, chúng ta từng theo đuổi tư duy luật khung, luật ống, luật nguyên tắc, còn những nội dung cụ thể giao cho văn bản hướng dẫn. Cách làm này lại phát sinh nhiều vấn đề, bởi cơ quan quản lý có xu hướng thắt chặt quản lý và đẩy khó cho doanh nghiệp.
Sau đó, chúng ta chuyển sang xây dựng luật cụ thể, chi tiết và đầy đủ để có thể thực hiện ngay. Nhưng cách tiếp cận này cũng bộc lộ hạn chế, bởi cuộc sống thay đổi quá nhanh, đặc biệt trong bối cảnh cả trong nước và thế giới hiện nay. Nếu luật quy định quá chi tiết thì khi thực tiễn thay đổi, chính luật lại trở thành điểm vướng.
Vì vậy, tôi cho rằng một trong những quyết định sáng suốt trong công tác xây dựng pháp luật là quay trở lại với luật và nguyên tắc. Những vấn đề thực sự ổn định, chắc chắn và bền vững thì cần được chốt trong luật. Còn những vấn đề mang tính kỹ thuật, thường xuyên thay đổi cần có cách xử lý linh hoạt hơn, thay vì đưa tất cả vào luật.
Tôi không đồng tình với quan điểm cho rằng luật đã thông thoáng, hợp lý nhưng việc triển khai mới là vấn đề. Theo tôi, việc thực thi, triển khai, kiểm tra và kết quả đều bắt đầu từ luật. Luật quy định thế nào thì người thực hiện sẽ phải làm như thế. Khi quy định pháp luật chặt chẽ, trách nhiệm của cán bộ, công chức lại khiến họ càng thận trọng, thì những vướng mắc trong thực tế rất khó được giải quyết chỉ bằng khâu tổ chức thực hiện. Vì vậy, nhiều điểm vướng cuối cùng vẫn có nguyên nhân từ luật.
Một trong những cách giải quyết xung đột, vướng mắc là Luật Dầu khí cần được kết nối và đặt trong mối quan hệ với các luật khác, quan trọng hơn là đặt luật trong tổng thể cải cách hiện nay. Chúng ta đang cắt giảm mạnh số lượng ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đồng thời đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính. Trong một tổng thể cải cách như vậy sẽ không phải lo ngại việc các văn bản hướng dẫn sẽ quay trở lại cách tiếp cận thắt chặt, gây khó khăn cho doanh nghiệp như trước đây.
Luật Dầu khí cũng đang đi theo hướng đó. Những gì cần chốt, những vấn đề mang tính nguyên tắc, đã được thực tiễn kiểm nghiệm, thì cần quy định trong luật. Còn những vấn đề khác có thể giao Chính phủ hướng dẫn để bảo đảm tính linh hoạt và khả năng thích ứng.
Tôi kỳ vọng tốc độ ban hành các nghị định sẽ tiếp tục được duy trì và đẩy nhanh. Việc ban hành văn bản hướng dẫn kịp thời, dù vẫn có những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện, sẽ giúp giải quyết yêu cầu thực tế tốt hơn so với việc liên tục phải sửa đổi luật”.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 33-2026 phát hành ngày 17/08/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-33-2026.html
Về bản chất, y học tái tạo xoay quanh việc phục hồi hoặc thay thế các mô, cơ quan và tế bào bị tổn thương thông qua các phương pháp tiên tiến như liệu pháp tế bào gốc, kỹ thuật mô và chỉnh sửa gen. Lĩnh vực mang tính đột phá này có tiềm năng cách mạng hóa việc điều trị các bệnh mãn tính và chấn thương, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân trên toàn thế giới. Tuy nhiên, con đường phía trước không hề bằng phẳng, vì tồn tại những xung đột phức tạp giữa ngành này với các giới hạn đạo đức và pháp lý. Khi tiếp tục cuộc hành trình, cam kết của chúng ta trong việc hiện thực hóa toàn bộ tiềm năng của y học tái tạo là vô cùng quan trọng.
Trong tái cấu trúc doanh nghiệp, câu hỏi quan trọng nhất không phải là tài sản hiện tại đáng giá bao nhiêu, mà là doanh nghiệp còn khả năng tạo ra bao nhiêu dòng tiền trong tương lai. Tuy nhiên, giữa tổ chức tín dụng muốn thu hồi vốn nhanh và doanh nghiệp cần thời gian để xoay vòng vốn luôn tồn tại những “nút thắt” giằng co, khó xử lý. Vì vậy, vấn đề là làm thế nào để dung hòa xung đột này, tối đa hóa giá trị thu hồi và biến cơ chế phục hồi thành một thị trường hấp dẫn dòng vốn ngoại.
Ông Jeffrey Tchui, Giám đốc Điều hành kiêm Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Hashgraph, đơn vị phát triển và thúc đẩy Hedera, một trong những mạng sổ cái phân tán hàng đầu thế giới, đồng thời là Giám đốc Điều hành của Web3 Harbour, hiệp hội ngành Web3 hàng đầu Hồng Kông (Trung Quốc), trong cuộc trao đổi với a/b, đã chia sẻ quan điểm về định hướng phát triển thị trường tài sản thực được mã hóa (Real World Assets - RWA), đồng thời đưa ra nhiều gợi mở để Việt Nam hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực này.
Khi các định chế tài chính toàn cầu bắt đầu thử nghiệm đưa tài sản truyền thống lên blockchain, Việt Nam đứng trước cơ hội tham gia một xu hướng mới của thị trường vốn. Tuy nhiên, để mã hóa tài sản thực (RWA) phát triển bền vững, cần một chiến lược phù hợp ngay từ giai đoạn đầu...
Quan hệ Việt Nam - New Zealand đang bước vào giai đoạn phát triển mới sau khi được nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Trên nền tảng hơn nửa thế kỷ hợp tác kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1975, hai nước đang đứng trước nhiều cơ hội mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư.
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Nhà ga T2 Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc đang bước vào giai đoạn hoàn thiện mặt ngoài với hơn 9.500 tấm kính Unitized. Toàn công trường huy động khoảng 6.500 kỹ sư, công nhân thi công ba ca, bốn kíp để hướng tới vận hành thử vào tháng 4/2027.