
Việt Nam đã gặt hái được những gì sau hơn sáu tháng là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)?
Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển đã có cuộc trao đổi v
ới b
áo gi
ới
xung quanh vấn đề này.
Ông n
ói:
- Sáu tháng là quá ngắn để đánh giá các tác động, nhưng những gì diễn ra trong sáu tháng qua hoàn toàn phù hợp với nhận định của Bộ Thương mại khi trình Quốc hội (QH) phê chuẩn Hiệp định về gia nhập WTO.
Khi đó, chúng tôi nhận định cơ hội lớn nhất là thu hút đầu tư nước ngoài. Và thực tế cho thấy đang có một làn sóng đầu tư cả về trực tiếp lẫn gián tiếp đổ vào Việt Nam. Số vốn đăng ký sáu tháng đầu năm tăng cao, trên 5 tỉ USD, có thể tăng nữa nếu chúng ta cải cách tốt thủ tục đầu tư.
Chúng tôi cũng nhận định là thị trường xuất khẩu sẽ được mở rộng nhưng không có đột biến. Điều này cũng đúng trên thực tế. Muốn có cái để xuất khẩu thì phải có sản phẩm, đầu tư phải tăng lên, song thực tế ta lại chưa đáp ứng được.
Tuy không có tăng đột biến về thị trường nhưng nhìn chung xuất khẩu có tăng lên. Tính chung các sản phẩm xuất khẩu phi dầu thô tăng khoảng 28,6%. Dự báo tăng trưởng xuất khẩu cả năm sẽ đạt trên 20%, cao hơn mức mà Qu
ốc h
ội
đã đặt ra.
Nhưng nhập siêu trong sáu tháng đầu năm đã tăng lên đến hơn 30% có phải là do tác động từ việc gia nhập WTO?
Điều này không hoàn toàn đúng. Thực tế, nhập siêu tăng ở nhiều mặt hàng thuế chưa giảm hoặc giảm ít theo cam kết WTO của Việt Nam.
Mặt khác, nhập siêu tăng là do nhà đầu tư nhập hàng về để triển khai dự án. Nhập khẩu của các nhà đầu tư nước ngoài sáu tháng đầu năm tăng 30,6%. Họ nhập không phải để bán mà là để hình thành dự án đầu tư. Vì thế theo tôi, ảnh hưởng của gia nhập WTO dẫn đến nhập siêu tăng là không lớn.
Ngoài ra, nguyên nhân tiếp theo là do năng lực cạnh tranh một số mặt hàng kém khi đối mặt với hội nhập như ngành thép chẳng hạn.
Hiện nay, công suất sản xuất thép của các doanh nghiệp trong nước rất lớn nhưng không bán được hàng do không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu. Đây cũng là một yếu kém trong mô hình tăng trưởng của chúng ta.
Nhiều chuyên gia dự báo vào WTO giá hàng hóa sẽ rẻ đi nhưng thực tế lại đang diễn ra ngược lại, vì sao?
Việc tăng giá vừa rồi là do mấy yếu tố sau: thứ nhất là do giá cả một số mặt hàng trên thế giới tăng; thứ hai, giá lương thực thực phẩm tăng.
Việc giá xuất khẩu lương thực tăng đặt ra yêu cầu là phải mua hàng của nông dân với giá cao hơn. Điều đó có nghĩa là việc phân phối lợi ích giữa nhà sản xuất và người đi buôn hợp lý.
Do đó nó cũng góp phần làm giá lương thực trong nước tăng lên. Ngoài ra, cúm gà, dịch bệnh cũng làm giá cả trong nước tăng, lượng tiền lưu thông tăng lên.
Nhà nước đã bỏ ra một số lượng lớn tiền để mua ngoại tệ cũng gây áp lực tăng giá. Một số chính sách giá của Nhà nước trong lĩnh vực điện, xăng dầu, than cũng kích thích tăng giá mặt hàng khác.
Đó là các yếu tố làm tăng giá mà theo tôi, việc tăng giá vừa rồi là không thể coi thường mặc dù vẫn có thể kiểm soát được. Vì thế điều này đặt ra nhiệm vụ kiềm chế giá trong sáu tháng cuối năm là rất quan trọng.
Nhưng vẫn còn rào cản khi thiếu các hướng dẫn cụ thể trong việc triển khai thực hiện cam kết WTO, điều này đã gây khó cho nhà đầu tư?
Có thể có một số lĩnh vực phải chờ hướng dẫn lâu hơn vì nó phức tạp. Ví như quyền kinh doanh, quyền nhập khẩu. Quyền nhập khẩu phải làm sao để không biến thành phân phối trá hình.
Nhà đầu tư nước ngoài có quyền đưa hàng đến Việt Nam, làm thủ tục tại hải quan nhưng không có quyền phân phối. Vậy làm thế nào để đảm bảo cho người ta quyền được nhập khẩu hàng hóa nhưng không lợi dụng để phân phối đòi hỏi phải có thảo luận, trao đổi nên hơi lâu một tí, nhưng bây giờ đã có hướng dẫn rồi.
Tôi cho rằng chúng ta không triển khai chậm, có chăng chỉ ở lĩnh vực này thôi. Quyền phân phối luôn là vấn đề gay go khi đàm phán và cũng luôn phức tạp không chỉ là vấn đề của Việt Nam. Bây giờ chỉ còn vấn đề này thôi là giữa cam kết của ta với chính sách có sự chênh lệch.
Trước đây ta mở cửa một số lĩnh vực thông thoáng hơn cam kết. Bây giờ về nguyên tắc chúng ta phải dựa vào cam kết thôi. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng chúng ta không thể mở cửa sớm hơn. Cái gì cần mở sớm hơn, chúng ta phải phân tích thấu đáo để vừa thúc đẩy phát triển vừa bảo hộ hợp lý. Bộ Thương mại và Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang soạn thảo một nghị định cho phép lĩnh vực nào mở cửa sớm hơn cam kết.
Ví dụ chúng ta có thể mở sớm hơn trong lĩnh vực đào tạo. Có cần để doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực đào tạo khoa học công nghệ với hình thức 100% vốn từ 1/1/2009 không hay mở sớm hơn? Phải có cái nhìn tổng thể.
Theo Bộ trưởng, đâu là thành công lớn nhất của chúng ta sau nửa năm gia nhập WTO?
Về chính sách, chúng ta đang từng bước tạo ra yếu tố thị trường, đặt doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh mạnh mẽ hơn. Điều này sẽ quyết định hình thành nên chính sách của doanh nghiệp. Thu hút được đầu tư nước ngoài là thành công thứ hai giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, tạo điều kiện để chúng ta thúc đẩy xuất khẩu.
Bản năng sống, tồn tại và phát triển trong một môi trường cạnh tranh đang buộc các doanh nghiệp phải làm, phải thay đổi cơ cấu quản lý, thay đổi chiến lược kinh doanh..., từ đó tạo nên một nền kinh tế thật sự năng động. Đó chính là điều chúng ta cần nhất khi bước vào sân chơi này.
* Chỉ số kinh tế trong sáu tháng đầu năm 2007
- Tăng trưởng GDP 7,87%, là mức tăng cao nhất so với cùng kỳ trong năm năm gần đây. Trong đó, sản xuất công nghiệp tăng 16,9%, dịch vụ tăng 8,4%.
- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài 5,2 tỉ USD.
- Chỉ số giá tiêu dùng sáu tháng đầu năm tăng 5,2% (cao hơn 4% so với cùng kỳ năm 2006).
- Xuất khẩu đạt 22,4 tỉ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
- Nhập khẩu 27,1 tỉ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu hai con số, Việt Nam tập trung quyết liệt cải cách thể chế, giảm 50% thủ tục hành chính và số hóa hạ tầng thương mại. Đẩy mạnh chuyển đổi xanh, phát triển nguyên liệu nội địa cùng chiến lược đa dạng hóa thị trường là những giải pháp cốt lõi giúp nâng cao năng lực tự chủ, tạo đà bứt phá bền vững cho doanh nghiệp trong chuỗi giá trị toàn cầu…
Với quy mô dân số hơn 285 triệu người và nhu cầu thực phẩm tăng mạnh, Indonesia là thị trường đầy hứa hẹn cho doanh nghiệp thực phẩm Việt Nam. Tuy nhiên, để chinh phục nền kinh tế lớn nhất ASEAN, doanh nghiệp cần vượt qua rào cản khắt khe về tiêu chuẩn kỹ thuật, chứng nhận Halal và chiến lược tiếp cận bài bản.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam, đồng thời cũng đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững. Đây vừa là thách thức, vừa là động lực để ngành nông nghiệp Việt Nam chuyển đổi từ tăng trưởng dựa vào sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng và giá trị gia tăng...
Các biện pháp hạn chế xuất khẩu vonfram, đất hiếm và một số khoáng sản quan trọng khác của Trung Quốc đang tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với ngành công nghiệp Nhật Bản, đồng thời đẩy quan hệ giữa hai nền kinh tế lớn nhất châu Á vào giai đoạn căng thẳng mới...
Trung Quốc đang chuẩn bị đưa vào hoạt động thêm một cảng tiếp nhận khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) dành cho các lô hàng từ dự án Arctic LNG-2 của Nga...
35 năm trước, Thời báo Kinh tế Việt Nam ra đời cùng với sự đổi mới, đặc biệt là đổi mới kinh tế của đất nước, đã đồng hành và có những đóng góp, dù còn rất nhỏ bé, cho công cuộc xây dựng kinh tế đất nước. Tròn 6 năm kể từ năm 2020, Tạp chí Kinh tế Việt Nam lại tiếp tục song hành cùng sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Và với sự ra mắt đồng thời hai nền tảng công nghệ Asko CMS và Askonomy vào ngày 26/6/2026, Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy - Vietnam Economic Times nguyện sẽ đồng hành cùng Kỷ nguyên vươn mình của đất nước.
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.