Bộ Tư pháp vừa đăng tải công khai tờ trình về dự thảo Nghị
quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả
phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Theo dự thảo tờ trình, đầu tư nước ngoài là trụ cột chiến lược
trên toàn cầu, đặc biệt trong giai đoạn hậu COVID-19 khi dòng vốn dịch chuyển mạnh
sang công nghệ cao, kinh tế xanh và năng lượng tái tạo.
Các quốc gia đẩy mạnh ký kết các hiệp định đầu tư quốc tế
kèm theo các cam kết bảo hộ nhà đầu tư nước ngoài, dẫn tới phần lớn (khoảng
94%) các hiệp định đầu tư quốc tế có điều khoản về cơ chế giải quyết tranh chấp
đầu tư, chủ yếu là trọng tài quốc tế.
Tính đến hết tháng 7/2025, trên thế giới có 1.440 vụ kiện đầu
tư quốc tế, trong đó có 324 vụ kiện vẫn đang trong quá trình giải quyết.
Phần lớn các quốc gia bị kiện là các quốc gia đang phát triển
(Argentina, Venezuela, An Độ ...) nhưng cũng có những quốc gia phát triển (Hoa
Kỳ, Canada, Tây Ban Nha ...) trở thành bị đơn trong các tranh chấp đầu tư quốc
tế.
Cùng với đó, nhiều quốc gia theo đuổi các xu thế cải tổ cơ
chế tranh chấp đầu tư quốc tế như loại bỏ hoặc thu hẹp phạm vi áp dụng, thay thế
bằng cơ chế khác như tòa án quốc gia hoặc nhà nước xây dựng tòa án đầu tư thường
trực; hoặc cải thiện điều khoản tranh chấp đầu tư quốc tế hiện có để giới hạn
phạm vi và điều kiện khởi kiện.
Đặc biệt, các quốc gia thường xuyên phải đối mặt với rủi ro
tranh chấp đầu tư quốc tế đã chú trọng công tác phòng ngừa tranh chấp, phát
triển đội ngũ nhân sự pháp lý trong nước, giúp phản ứng kịp thời với các tranh
chấp và giảm lệ thuộc vào tư vấn quốc tế.
Hiện nay, Việt Nam đã ký kết 64 hiệp định khuyến khích, bảo
hộ đầu tư song phương và các hiệp định khác có cam kết về bảo hộ đầu tư (gọi
chung là “hiệp định đầu tư”).
Hầu hết các hiệp định đầu tư này đều cho phép nhà
đầu tư nước ngoài khởi kiện Nhà nước, Chính phủ Việt Nam ra trọng tài quốc tế
khi cho rằng Nhà nước, Chính phủ hoặc một cơ quan nhà nước (kể cả cơ quan tư
pháp) vi phạm các cam kết về bảo hộ đầu tư trong các hiệp định đầu tư tương ứng.
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng chỉ ra thực trạng hiện nay, các quy định pháp luật
liên quan đến phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế còn tản mạn, chưa cụ thể;
chưa có quy định cụ thể liên quan đến nguồn lực đảm bảo cho công tác này dẫn đến
hiện tượng “chảy máu chất xám” trong đội ngũ cán bộ làm công tác phòng ngừa và
giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế…
Do đó, việc xây dựng nghị quyết nhằm hoàn thiện các quy định
về cơ chế phòng ngừa, cảnh báo và giải quyết sớm tranh chấp, tăng cường hiệu quả
của việc giải quyết sớm tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải.
Đồng thời, hoàn thiện
các quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế; về chế độ chính
sách cho cán bộ làm công tác phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế…
Dự thảo nghị quyết gồm 6 chương, 19 điều, tập trung đẩy
mạnh cơ chế phòng ngừa sớm thông qua việc giải quyết kịp thời phản ánh, kiến
nghị, khiếu nại của nhà đầu tư nước ngoài.
Cụ thể là cơ quan tiếp nhận trực tiếp
phản ánh, kiến nghị, khiếu nại của nhà đầu tư nước ngoài hoặc qua Cổng thông
tin quốc gia về đầu tư có trách nhiệm chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức
có liên quan trong việc phân loại, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng thẩm
quyền các phản ánh, kiến nghị, đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Đặc biệt là xác lập các nguyên tắc nền tảng, bao gồm tuân thủ
pháp luật và điều ước quốc tế; bảo đảm minh bạch, nhất quán trong chính sách; bảo
đảm sự chỉ đạo thống nhất và phối hợp hiệu quả; quản lý chặt chẽ thông tin, tài
liệu mật; gắn trách nhiệm của người đứng đầu với nguy cơ phát sinh tranh chấp.
Trong đó, Điều 5 quy định rõ về “Ban chỉ đạo liên ngành về
giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế”.
Việc quy định về thành lập, thành phần,
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban chỉ đạo liên ngành giải quyết tranh chấp
đầu tư quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả và thống nhất chỉ đạo các các vụ tranh chấp
đầu tư có giá trị đặc biệt lớn.