
Gạo Thái Lan đang bị nhiều nước từ chối mua vì giá cao so với gạo Việt Nam. Liệu nước này có đạt thỏa thuận bán được cho Indonesia 1 triệu tấn gạo trong tuần này?
Theo tin từ báo Bangkok Post của Thái Lan ngày 18/6, nước này sẽ đàm phán với phía Indonesia trong tuần này với hy vọng bán cho Jakarta 1 triệu tấn gạo. Trong đó, phía Thái Lan sẽ đề xuất bán cho Indonesia loại gạo trắng 5% tấm với giá khoảng 22.700 baht/tấn, gần bằng với giá lúa gạo mà Chính phủ Thái cam kết mua dự trữ.
Giá FOB gạo 5% tấm của Thái Lan hiện ở mức 600 USD/tấn, so với mức 410 USD/tấn của Việt nam, 420 USD/tấn của Ấn Độ và 550 USD/tấn của Mỹ.
Giới phân tích cho rằng, Thái Lan có thể không bán được gạo cho Indonesia vì giá gạo Thái Lan đang cao. Gần đây, Philippines đã chọn mua gạo từ Việt Nam thay vì từ Thái Lan hay Campuchia.
Trong khi đó, theo tin từ Reuters, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã giảm xuống mức thấp nhất trong 3 tháng do khách mua chờ tới thời điểm chính vụ dự kiến sẽ diễn ra vào tháng tới.
Giá gạo loại 5% tấm, FOB cảng Sài Gòn, tính đến giữa tuần trước đã giảm xuống mức 410-415 USD/tấn, từ mức 420 USD/tấn trong tuần trước đó. Giá FOB gạo loại 25% tấm cũng giảm xuống còn 360-370 USD/tấn, từ mức 380-390 USD/tấn trong tuần trước đó.
“Vụ thu hoạch lúa hè thu sẽ cao điểm vào tháng 7. Vì vậy, giá gạo đang giảm do khách mua chỉ đứng ngoài thị trường”, một nhà giao dịch tại Tp.HCM cho biết.
Hiện nay, nhiều khu vực tại vựa lúa ĐBSCL đã bắt đầu vụ gặt. Theo giới kinh doanh lúa gạo, từ nay đến tháng tới, 2 triệu tấn lúa mới sẽ được chờ để xuất khẩu. “Nguồn lúa gạo từ vụ mới, cộng thêm với lượng lúa gạo từ kế hoạch dự trữ của Chính phủ đẩy nguồn cung gia tăng. Vì vậy, giá gạo sẽ còn giảm”, một nhà giao dịch khác nhận định.
Giới kinh doanh lúa gạo cho rằng, việc Chính phủ Thái Lan mới đây tuyên bố cân nhắc việc bán gạo từ dự trữ quốc gia cho tới nay hầu như chưa có ảnh hưởng nào tới tình hình thị trường. Chính phủ Thái đã mua gần hết lượng gạo có trên thị trường nước này theo chương trình tạm trữ nên giá gạo hiện vẫn duy trì ở mức khá cao.
Tính đến thứ Tư tuần trước, gạo loại 100% B của Thái Lan được chào bán với giá 600 USD/tấn, không đổi so với tuần trước đó. Chính phủ Thái Lan đã dự trữ khoảng 15 triệu tấn lúa theo chương trình tạm trữ lúa gạo nhằm hỗ trợ nông dân nghèo, mức dự trữ lúa gạo cao kỷ lục của nước này.
Giá thóc mà Chính phủ Thái Lan mua của dân là 15.000 Baht/tấn đối với thóc thường loại có độ ẩm 15% và 20.000 Baht/tấn đối với thóc Hom Mali.
Số lúa dự trữ trên tương đương khoảng 9 tấn gạo. Trong mấy năm gần đây, Thái Lan xuất khẩu mỗi năm 8-10 tấn gạo. Chính phủ Thái Lan mới đây cho biết, sẽ tính chuyện xả kho dự trữ lúa gạo để hạ chi phí lưu kho.
“Giá gạo sẽ không giảm trừ phi Chính phủ Thái bán ra thị trường một lượng gạo lớn. Gạo hiện đang giữ giá do nguồn cung thắt chặt. Tất cả gạo đều đã được Chính phủ mua tích trữ, trên thị trường chẳng còn gì cho các nhà xuất khẩu thua mua nữa”, một thương gia ở Bangkok cho biết.
Chính phủ Thái Lan gần đây đã đàm phán với một số nước về việc xuất khẩu gạo sang các nước này, bao gồm Bangladesh và Indonesia. Tuy nhiên, Bangladesh đã từ chối mua gạo thái Lan, cho biết là nước này không cần nhập gạo vì kho gạo dự trữ đáng tăng lên do năm thứ hai được mùa kỷ lục liên tiếp.
“Một phái đoàn Thái Lan đã đến đây từ 2 tuần trước để đàm phán xuất khẩu gạo vì chúng tôi có một biên bản ghi nhớ với phía Thái về vấn đề này. Tuy nhiên, chúng tôi đã nói với họ là chúng tôi không cần nhập gạo vì đã được mùa 2 năm”, một quan chức phụ trách mua gạo của Bangladesh tiết lộ với Reuters.
Trong 4 tháng đầu năm nay, Thái Lan xuất khẩu 2,24 triệu tấn gạo, giảm 43,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến gày 8/6, nước này đã xuất khẩu 3 triệu tấn gạo, giảm 45% so với cùng kỳ.
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.