Trên thị trường chứng khoán, số lượng nhà đầu tư là nữ giới ngày càng nhiều hơn. Đơn cử như theo thống kê của công ty quản lý quỹ KIM Việt Nam, hiện tỷ lệ nữ giới trong số các nhà đầu tư của Quỹ KDEF lên đến 47%, một mức khá cao gần tương đương so với các nhà đầu tư là nam giới.
Trao đổi về vấn đề này trong Talk show Phố Tài chính mới đây, bà Đỗ Minh Trang, Giám đốc Trung tâm Phân tích Công ty TNHH Chứng khoán ACB (ACBS) đánh giá, các nhà đầu tư nữ đang ngày càng chứng minh sự tự chủ trong tài chính cũng như khả năng đầu tư hiệu quả trên thị trường, cũng như ngày càng có nhiều sự thay đổi để theo kịp sự phát triển của thị trường trong kỷ nguyên mới.
Theo báo cáo của Grant Thornton, trên thị trường doanh nghiệp tầm trung, trong hai thập kỷ qua, tỷ lệ phụ nữ nắm giữ các vị trí quản lý cấp cao đã tăng từ 19,4% của năm 2024 lên 34,0% vào năm 2025. Điều này phản ánh sự vươn lên của nữ giới trong các hoạt động kinh tế xã hội và hướng tới cơ cấu bình đẳng giới.
Trong phạm vi ngành tài chính ngân hàng, tỷ lệ này thậm chí đã áp đảo. Hầu hết các ngân hàng báo cáo tỷ lệ nhân viên nữ > 50%, một số ngân hàng như ACB, tỷ lệ này trên 60%. Trong báo cáo phát triển bền vững của các công ty chứng khoán, nhiều công ty cũng có tỷ lệ nhân viên nữ > 50%.
Đi sâu hơn về số liệu nhà đầu tư chứng khoán, theo thống kê mới nhất của VSDC, hết tháng 9/2025, số lượng tài khoản chứng khoán đạt khoảng 10,99 triệu tài khoản, hoàn thành mục tiêu đến 2030 của Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán.
Tuy không có báo cáo chi tiết về độ tuổi và giới tính của các nhà đầu tư chứng khoán, tuy nhiên, bằng quan sát từ tệp khách hàng của ACBS, tỷ lệ nhà đầu tư là phụ nữ đang ngày càng gia tăng. Mặc dù mức độ quan tâm của nhà đầu tư nữ chủ yếu tập trung ở chứng khoán cơ sở. Trong khi nhà đầu tư nam giới sẽ quan tâm tới các sản phẩm phức tạp hơn, ví dụ như phái sinh, chứng quyền có đảm bảo.
Về kinh tế vĩ mô, mục tiêu tăng trưởng GDP của Chính phủ năm 2025 là 8,3%-8,5% và năm 2026 là 10%. Tính trong 9 tháng đầu năm 2025, GDP bình quân đang đang đạt 7,84%, như vậy để đạt mục tiêu 8,3% cho cả năm 2025 thì GDP quý IV/2025 phải đạt 9,7%. "Tôi cho rằng điều này khá thách thức, đặc biệt trong bối cảnh chúng ta phải đối mặt với thiên tai, bão lũ gần đây. Chính vì vậy, mức tăng trưởng 8,0% là mức khả thi hơn cho năm 2025, tương ứng với GDP quý IV/2025 sẽ cần đạt 8,5%", bà Trang nhận định.
Trên thị trường chứng khoán, ngày 8/10 vừa qua, FTSE Russell đã công chứng khoán Việt Nam được xếp hạng là thị trường mới nổi thứ cấp, với ngày hiệu lực là 21/9/2026, và phụ thuộc vào kết quả đánh giá vào tháng 3/2026 về việc liệu Việt Nam đã đạt đủ tiến triển trong việc tạo điều kiện cho các nhà môi giới toàn cầu tiếp cận thị trường hay chưa.
Đây là một thông tin tích cực sau nhiều năm chờ đợi. Và với những nỗ lực gần đây của Chính phủ, kỳ đánh giá tháng 3/2026 sẽ chỉ là yếu tố kỹ thuật.
Trong thời gian chờ đợi hiệu lực, chúng ta có 2 mốc cần quan tâm. Thứ nhất đó là mốc tháng 3/2026, là thời điểm các quỹ đầu tư chủ động phân bổ vốn vào các thị trường mới nổi bắt đầu có thể giải ngân vào thị trường chứng khoán Việt Nam ước tính 3-7 tỷ USD trong 5 năm.
Mốc thứ 2 là vào tháng 9/2026, là thời điểm các quỹ đầu tư thụ động mô phỏng theo chỉ số ETF của thị trường mới nổi có thể giải ngân khoảng 600 triệu đến 1,5 tỷ USD trong khoảng 3-6 tháng.
Tuy nhiên, ngoại trừ dòng vốn thụ động sẽ tự động chảy vào, thì dòng vốn chủ động, với quy mô lớn hơn nhiều lần, sẽ quan tâm tới nhiều yếu tố khi quyết định đầu tư vào một thị trường, bao gồm khả năng tăng trưởng của nền kinh tế và các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán, rủi ro phá giá đồng nội tệ, và nền định giá có đủ hấp dẫn hay không?
Vì vậy, trong thời gian chờ đợi 6-12 tháng tới, chúng ta vẫn cần tập trung vào những yếu tố cơ bản của nền kinh tế Việt Nam và thị trường chứng khoán.
Tóm lại, thành công hiện tại chỉ là bước đầu tiên trong nỗ lực nâng hạng thị trường chứng khoán Việt nam trong giai đoạn 2025-2030. Chúng ta còn nhiều việc phải làm để chuẩn bị cho kỳ review tháng 3/2026, đồng thời hướng tới mục tiêu vào danh sách theo dõi của MSCI EM vào tháng 6/2026, từ đó hướng với việc nâng hạng lên MSCI EM vào năm 2030.
Đà phục hồi ấn tượng hôm qua đã không thể được tiếp nối trong phiên cuối tuần khi dòng tiền một lần nữa “buông”. Thị trường được trao lại vào tay người bán, phù hợp với những ai muốn tranh thủ cắt lỗ nốt.
Trong bối cảnh lãi suất trong nước vẫn neo ở mức cao, dư địa để dòng vốn nội tiếp tục mở rộng đòn bẩy với tốc độ như giai đoạn 2024-2025 nhằm bù đắp cho các đợt bán ròng mới của khối ngoại sẽ khó mở rộng thêm nhiều. Đây là điểm cần tiếp tục theo dõi.
Việt Nam ghi điểm ở định giá đang ở mức hấp dẫn, tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp và dư địa sở hữu, nhưng thiếu hai yếu tố phân định sự hấp dẫn: động lực lợi nhuận gắn với AI và tiềm ẩn áp lực về tỷ giá.
Kết thúc cuộc họp chính sách tiền tệ ngày 23/7, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) ra quyết định giữ nguyên lãi suất...
Báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm 2026 của nhiều ngân hàng và công ty chứng khoán cho thấy bức tranh kinh doanh khả quan. Tăng trưởng tín dụng, thu nhập lãi thuần cải thiện tạo động lực để nhiều doanh nghiệp tài chính ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng, trong đó không ít ngân hàng và công ty chứng khoán đạt mức tăng hai chữ số...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.