
Thị trường liên ngân hàng một tuần gần đây có chuyển biến mới: lãi suất VND liên tiếp tăng lên khá mạnh, thu hẹp chênh lệch so với lãi suất USD, dù lượng tín phiếu đáo hạn lớn.
Như thể hiện từ trung tuần tháng 6 vừa qua, với lượng tiền đồng lớn và thanh khoản hệ thống các tổ chức tín dụng có biểu hiện dư thừa, lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng liên tục giảm mạnh và sâu, trong khi lãi suất USD trên cùng thị trường tăng mạnh sau cú hích tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED).
So sánh tương đối ở các kỳ hạn ngắn, sau diễn biến trên, lãi suất USD đã gấp đôi lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng. Chênh lệch quá lớn này kích thích việc nắm giữ hoặc đầu tư USD, dẫn tới một trong những nguyên nhân nổi bật đẩy tỷ giá USD/VND lên cao từ thời điểm đó đến nay.
Tuy nhiên, một tuần trở lại đây, diễn biến mới đã thể hiện: lãi suất VND trên liên ngân hàng tăng mạnh lên, thu hẹp chênh lệch với lãi suất USD.
Điển hình ở lãi suất qua đêm, sau khi có thời điểm rơi sâu dưới 0,7%/năm, lãi suất VND những phiên trong tuần này đã bật mạnh trở lại, vượt mốc 1%/năm, đạt 1,23%/năm như trong ngày 12/7. Trong khi lãi suất qua đêm USD đã giảm về sát 2%/năm. Chênh lệch đã thu hẹp đáng kể.
Nhưng ở một diễn biến liên quan, qua cân đối khối lượng tín phiếu đến kỳ đáo hạn, ước tính tháng 7 này là tháng cao điểm lượng vốn Ngân hàng Nhà nước hút về thời gian qua được trả ra thị trường, với khoảng 100.000 tỷ đồng.
Quy mô trên đang từng bước cụ thể hóa, khi trong tuần thứ hai của tháng 7 này số dư tín phiếu lưu hành đã giảm mạnh, đến ngày 12/7 chỉ còn 106.380 tỷ đồng, trong khi mức độ hút vốn ở kênh này nửa cuối tháng 6 vừa qua có số dư lên tới quanh 150.000 tỷ đồng.
Lượng vốn lớn được trả ra thị trường, tập trung trong tháng 7 một phần do kỳ hạn của tín phiếu hút về trước đó ngắn.
Từ đầu năm đến nay, Ngân hàng Nhà nước chủ yếu vẫn dùng hai kỳ hạn 7 và 14 ngày để hút tiền về. Từ đầu tháng 6 vừa qua, đón trước diễn biến FED tăng lãi suất, lượng hóa được lượng tiền đồng trả cho việc mua ngoại tệ kỳ hạn lần lượt đáo hạn, và trước trạng thái vốn khả dụng hệ thống có dấu hiệu dư thừa, Ngân hàng Nhà nước đã đẩy mạnh hơn việc hút bớt tiền về với độ nén dài hơn. Bên cạnh các kỳ hạn ngắn, tín phiếu phát hành đã xuất hiện kỳ hạn dài, lên tới 91 ngày - kỳ hạn chưa từng được dùng đến trong hai năm cao điểm mua vào ngoại tệ gần đây.
Với kỳ hạn dài hơn, việc "trói" bớt tiền đồng sẽ giữ được lâu hơn, nhất là trong bối cảnh sau nửa năm đầu tư công vẫn ứ đọng và tiền gửi ngân sách dồn lại trên hệ thống ngân hàng.
Và sau vòng quay "bơm - hút" vốn điều tiết trong hệ thống, sau tháng cao điểm tiền trả ra thị trường, nếu giải ngân đầu tư công vẫn chậm, vốn vẫn ứ đọng trong khi lạm phát gia tăng áp lực và tỷ giá USD/VND có biểu hiện biến động, nếu Ngân hàng Nhà nước tiếp tục mở rộng kỳ hạn phát hành tín phiếu thì cũng không bất ngờ.
Chỉ có điều, đi cùng với việc điều tiết trên, kỳ hạn dài hơn gắn với lãi suất phải trả cho việc điều tiết cao hơn. Mà đây là một cấu phần cân đối chi phí của ngân sách và điều hành (phối hợp) chính sách.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa triển khai chương trình tín dụng ưu đãi với lãi suất cho vay chỉ từ 6,0%/năm (giảm tới 2,0%/năm so với mức lãi suất thông thường) tùy theo kỳ hạn và lĩnh vực vay vốn.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước khẩn trương triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay từ 1,5-2% đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp...
Giá vàng thế giới giảm nhẹ trong phiên giao dịch ngày thứ Sáu (16/10), hoàn tất một tuần đi xuống, dù tỷ giá đồng USD và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ cùng giảm...
Năm 2026 tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng: là năm đầu của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ba phần tư chặng đường của năm đã đi qua, nền kinh tế đạt những kết quả tích cực, song vẫn còn không ít vấn đề cần được giải quyết để hoàn thành các mục tiêu đề ra cho cả năm.
Hồi năm 2012, bản đồ nợ của châu Âu vẫn còn rất đơn giản: ở phía Bắc là nhóm các quốc gia cốt lõi với chi phí vay thấp, trong đó Đức đóng vai trò trung tâm, còn ở phía Nam là nhóm các quốc gia ngoại vi với nợ nần chồng chất...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Thực tế, sau 9 tháng năm 2026, dù kinh tế ghi nhận nhiều kết quả tích cực, chỉ có 12/34 tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng hai con số. Bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà còn là nâng cao năng lực thực thi và chuyển hóa nguồn lực thành giá trị thực chất.