Ông Jinchang Lai, Trưởng nhóm phát triển cơ sở hạ tầng tài chính, Khu vực châu Á Thái Bình Dương, Nhóm Tư vấn các định chế tài chính, IFC, trả lời phỏng vấn của Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy xoay quanh vấn đề này.
Thưa ông, vì sao tài trợ chuỗi cung ứng (SCF) lại được đánh giá là một lĩnh vực quan trọng và phù hợp để thực hiện tại Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Đà Nẵng?
Trước tiên, cần nhìn nhận tài trợ chuỗi cung ứng là một lĩnh vực kinh doanh chứ không chỉ đơn thuần là một sản phẩm. Bản thân tên gọi của “Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam” đã bao hàm nội hàm về dịch vụ tài chính trong đó. Tài trợ chuỗi cung ứng là một lĩnh vực có khả năng lớn mạnh và nên được Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Đà Nẵng thực hiện dựa trên ba lý do chính:
Thứ nhất, lĩnh vực này có thể hỗ trợ cho thương mại toàn cầu – một mảng có tiềm năng rất lớn. Lấy ví dụ tại Việt Nam, tỷ trọng xuất nhập khẩu của năm 2025 vừa qua đã lên đến gần 1.000 tỷ. Do đó, tiềm năng để tài trợ chuỗi cung ứng bổ trợ cho thương mại toàn cầu và xuất nhập khẩu là vô cùng lớn.
Thứ hai, tài trợ chuỗi cung ứng sẽ trực tiếp giúp cho Đà Nẵng phát triển nền kinh tế của địa phương mình.
Thứ ba, lĩnh vực này sẽ giúp Đà Nẵng thu hút được rất nhiều nhà đầu tư như các tổ chức tài chính bao gồm ngân hàng thương mại và các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi từ công chúng, và các bên cung cấp dịch vụ bổ trợ cho ngành tài chính, từ đó tạo ra một nguồn thu lớn cho Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Đà Nẵng.
Tại Diễn đàn Tài chính Việt Nam (VFF) năm 2026 mới đây, chúng ta đặt mục tiêu là thu hút các tổ chức tài chính, nhà đầu tư quốc tế và các doanh nghiệp tham gia vào hệ sinh thái tài trợ chuỗi cung ứng (SCF) tại Việt Nam cũng như Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Đà Nẵng (VIFC – DN). Vậy, Đà Nẵng cần đáp ứng các điều kiện gì để thu hút nhà đầu tư và sự thành công của VIFC – DN sẽ được đo lường qua những chỉ số nào?
Để thu hút thêm các nhà đầu tư vào VIFC - DN, chúng ta không chỉ cần tạo ra một môi trường thuận lợi thông qua các nền tảng và quy định pháp luật, mà còn phải thúc đẩy sự phát triển của một hệ sinh thái tài chính, theo đó ngoài các ngân hàng thương mại còn cần có sự tham gia của các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, và các tổ chức cung cấp dịch vụ bổ trợ cho ngành tài chính. Cụ thể, đó là các công ty tài chính cho vay doanh nghiệp, các công ty bao thanh toán, các công ty cho thuê tài chính, các công ty vận hành nền tảng công nghệ tài trợ chuỗi cung ứng, v.v., và các bên cung cấp dịch vụ thứ ba độc lập như: công ty về dữ liệu và phân tích dữ liệu, công ty quản lý tài sản bảo đảm, các công ty bảo hiểm tín dụng thương mại, hay các công ty cung ứng dịch vụ đánh giá chỉ số ESG. Chúng ta vừa phải hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, vừa phải tạo môi trường thuận lợi để các tổ chức này được vào hoạt động và phát triển tại VIFC - DN.
Về việc đánh giá mức độ thành công của VIFC - DN, chúng ta có thể dựa vào một số chỉ số cụ thể sau: Số lượng các tổ chức tài chính bao gồm cả các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi của công chúng có mặt và vận hành tại VIFC – DN; Số lượng các tổ chức cung cấp dịch vụ bổ trợ của bên thứ ba dành cho ngành tài chính (như công ty dữ liệu và phân tích dữ liệu, công ty quản lý tài sản bảo đảm, công ty đánh giá xếp hạng ESG...); Số lượng các giao dịch thương mại được thực hiện tại VIFC -DN và Số lượng cán bộ chuyên nghiệp và có chuyên môn về tài chính tới làm việc tại VIFC -DN…
Như ông vừa chia sẻ, việc triển khai hiệu quả các chuỗi cung ứng đòi hỏi mấu chốt nằm ở vấn đề kết nối dữ liệu. Theo ông, vấn đề kết nối này nên được thực hiện như thế nào để đảm bảo tính tối ưu và quản trị rủi ro tốt?
Để hiệu quả, một tổ chức cho vay không nên chỉ phụ thuộc vào dữ liệu nội bộ hay các thông tin tín dụng từ các Trung tâm thông tin tín dụng, mà còn cần cần kết nối và sử dụng dữ liệu của các công ty cung cấp dịch vụ và sản phẩm về dữ liệu và phân tích dữ liệu, là bên thứ ba độc lập. Một tổ chức cho vay không chỉ sử dụng dữ liệu của một công ty cung cấp dịch vụ về dữ liệu và phân tích dữ liệu duy nhất mà còn sử dụng nhiều công ty dữ liệu và phân tích dữ liệu khác nhau để đảm bảo nguồn thông tin thu thập được mang tính đa dạng. Khi có những dữ liệu từ các nguồn đa dạng khác nhau, các tổ chức cung ứng giải pháp tài trợ chuỗi cung ứng sẽ có thể có một bức tranh tổng thể về khách hàng, qua đó có thể đánh giá khách hàng một cách chính xác hơn và giảm thiểu được rủi ro tín dụng.
Từ kinh nghiệm triển khai chuỗi cung ứng trên thế giới của IFC, ở giai đoạn ban đầu, thị trường cần ưu tiên thu hút thêm những đối tượng khách hàng nào và dựa trên tiêu chí gì?
Một thị trường tài chính không thể hoàn toàn phụ thuộc vào khối ngân hàng. Tại những thị trường tài chính phát triển, số lượng các “tổ chức cho vay không nhận tiền gửi từ công chúng” (NDTL) thường lớn gấp 10 lần so với các ngân hàng thương mại. Đây là những tổ chức không huy động tiền gửi từ dân chúng mà hoạt động như một tổ chức cho vay thương mại, tập trung cung cấp sản phẩm tài trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Phần lớn các tổ chức NDTL này đều có hoạt động liên quan trực tiếp đến tài trợ chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay, lĩnh vực này vẫn đang thiếu vắng và chưa được phát triển. Nếu thị trường không có các tổ chức NDTL, giá trị của các khoản tài trợ thương mại thông qua chuỗi cung ứng sẽ không thể lớn như mong đợi. Vì vậy, Việt Nam cần có thêm nhiều tổ chức NDTL. Tôi kỳ vọng VIFC - DN có thể trở thành điểm đến tiên phong trong việc thúc đẩy các tổ chức NDTL phát triển, thông qua các cơ chế đặc biệt hay cơ chế thử nghiệm của VIFC.
Về chủ trương, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra chính sách thành lập một Trung tâm Tài chính Quốc tế đặt tại hai điểm là Đà Nẵng và Hồ Chí Minh. Ông có nhận định gì về tương lai của các Trung tâm này và cần những yếu tố cốt lõi nào để đảm bảo sự thành công?
Việc Chính phủ Việt Nam đưa ra chính sách thành lập một VIFC đặt tại hai điểm là Đà Nẵng và Hồ Chí Minh với mục đích nâng cao vị thế và mở rộng kết nối của nền kinh tế Việt Nam với khu vực và toàn cầu là một chủ trương tốt. Tôi xin chúc mừng Việt Nam đã thành công trong bước đầu thành lập Trung tâm tài chính quốc tế.
Để VIFC đạt được thành công, tôi liệt kê ra một số yếu tố quan trọng sau đây:
Một là, tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển và hoạt động của VIFC Đà Nẵng và VIFC Hồ Chí Minh.
Hai là, đảm bảo có đủ các dịch vụ tài chính được vận hành bởi các trung tâm tài chính này.
Ba là, thu hút được nhân tài vào và làm việc cho các trung tâm tài chính tại hai thành phố.
Bốn là, thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ tài chính, và các bên cung cấp dịch vụ tài chính song song với việc thúc đẩy các bên cung cấp dịch vụ bổ trợ của bên thứ ba cho ngành tài chính hoạt động tại các trung tâm.
Tôi tin tưởng rằng, với sự nỗ lực của Việt Nam cũng như sự nỗ lực của từng VIFC tại Đà Nẵng và Hồ Chí Minh, Trung tâm Tài chính Quốc tế của Việt Nam sẽ thành công và phát triển mạnh mẽ.