Việt Nam có tiềm năng lưu trữ 71 tỷ tấn CO2, cơ hội phát triển CCUS trong dầu khí
TTùng Dương
Chọn cỡ chữ
Các công nghệ thu giữ và lưu trữ CO₂ (CCS), cũng như thu giữ, sử dụng và lưu trữ CO₂ (CCUS) đang được xem là một trong những giải pháp tiềm năng, mở ra thêm hướng tiếp cận trong quá trình giảm phát thải, đặc biệt đối với các ngành công nghiệp khó cắt giảm phát thải. Theo đánh giá, Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng lưu trữ CO₂ tốt nhất ở khu vực Đông Nam Á với tiềm năng lưu trữ lên đến 71 tỷ tấn CO2, tập trung chủ yếu ở 3 khu vực địa chất...
Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng lưu trữ CO₂ tốt nhất ở khu vực Đông Nam Á. Ảnh: Petrovietnam
Theo Global CCS Institute, số liệu đến ngày 31/7/2026 cho thấy,
thế giới có 113 dự án CCS thương mại đang vận hành, 59 dự án đang xây dựng, 308
dự án ở giai đoạn phát triển nâng cao và 352 dự án ở giai đoạn phát triển ban đầu.
Công suất thu giữ CO₂ của các dự án đang vận hành đạt khoảng 68 triệu tấn/năm
và các dự án đang xây dựng có tổng công suất khoảng 56 triệu tấn/năm.
Global CCS Institute đồng thời nhấn mạnh rằng, việc triển
khai CCS ở quy mô thương mại phụ thuộc không chỉ vào mức độ sẵn sàng của công nghệ
mà còn vào khung cấp phép và quản lý rõ ràng, khả năng tiếp cận địa điểm lưu trữ,
tính chắc chắn của nguồn doanh thu và cơ chế phân bổ rủi ro phù hợp trong toàn
chuỗi giá trị.
VIỆT NAM LÀ MỘT TRONG NHỮNG QUỐC GIA CÓ TIỀM NĂNG LƯU TRỮ CO₂ TỐT NHẤT Ở ĐÔNG NAM Á
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều tiềm năng để
phát triển CCS/CCUS trong ngành dầu khí và lưu trữ CO2 ngoài khơi Việt Nam.
Chia sẻ điều này tại hội thảo “Công nghệ thu giữ, sử dụng và
lưu trữ CO₂ (CCUS): Giải pháp thúc đẩy Net Zero tại Việt Nam” do Cục Biến đổi
khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Báo Nông nghiệp và Môi trường, Viện Dầu
khí Việt Nam tổ chức ngày 27/10/2026, TS. Nguyễn Hữu Lương, chuyên gia cao cấp
Viện Dầu khí Việt Nam, cho biết hiện nay công suất lưu trữ CCS
trên toàn cầu còn rất khiêm tốn với khoảng 64 triệu tấn CO2 đang được thu giữ.
Tuy nhiên, theo dự báo, quy mô triển khai CCS toàn cầu sẽ tăng rất nhanh, đến
năm 2030 con số này sẽ tăng lên gần 10 lần (trên 500 triệu tấn/năm).
Toàn cảnh hội thảo “Công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ CO₂ (CCUS): Giải pháp thúc đẩy Net Zero tại Việt Nam”. Ảnh: Tùng Dương
Hiện nay, trên toàn cầu đang có 77 dự án CCUS đang vận hành, 610
dự án ở giai đoạn phát triển khác nhau. Dự báo đến năm 2030, mức tăng bình quân
ở mức gần 40%. Các kiểu địa chất lưu trữ CO2 trên thế giới gồm: mỏ dầu khí cạn
kiệt, tầng chứa nước mặn và vỉa than sâu không khai thác.
Trong ngắn hạn, có thể tập trung lưu trữ CO2 vào các mỏ dầu
khí cạn kiệt với những lợi thế nhất định về cơ sở hạ tầng sẵn có và có thể kết hợp tăng cường thu hồi dầu. Tuy nhiên, trong dài hạn việc lưu trữ CO2 sẽ tập
trung vào tầng chứa nước mặn bởi đây là cấu trúc có tiềm năng lưu trữ lớn nhất.
Thống kê đến nay, lượng CO2 tích lũy đã được lưu trữ mới đạt khoảng 380 triệu tấn. "Đây là con số rất khiêm tốn so với tiềm năng trên 10 nghìn tỷ tấn CO2. Điều này cho
thấy dư địa phát triển của lĩnh vực này còn rất lớn," ông Lương nhìn nhận.
TS Nguyễn Hữu Lương
Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) đã kết luận để đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (NetZero) vào năm 2050 so với mục tiêu trước đây (năm 2070) sẽ đòi hỏi mức triển khai CCUS tăng thêm gần 50%.
Năm 2023, IEA cũng cho rằng CCUS là một giải pháp buộc phải thực hiện để đạt được mục tiêu NetZero.
Đối với Việt Nam, ông Lương cho biết theo kết quả hợp tác
nghiên cứu giữa PVN và JOGMEC xác định Việt Nam là một trong những quốc gia có
tiềm năng lưu trữ CO₂ tốt nhất ở khu vực Đông Nam Á với tiềm năng lên đến
khoảng 71 tỷ tấn CO2, tập trung chủ yếu vào 3 khu vực địa chất: bể Sông Hồng
(39 tỷ tấn CO2), bể Nam Côn Sơn (22 tỷ tấn) và bể Cửu Long (10 tỷ tấn). Trong
đó, Việt Nam có thể tận dụng khả năng lưu trữ hiệu quả hơn 1 tỷ tấn tại các mỏ
dầu khí đã qua khai thác, cạn kiệt.
Bên cạnh đó, Việt Nam còn nhiều lợi thế cho CCUS như: 34 mỏ
dầu khí ngoài khơi đã được Petrovietnam đánh giá sơ bộ tiềm năng lưu trữ CO2.
Năm 2011, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á đầu tiên bơm ép CO2 thành
công tại mỏ Rạng Đông.
XÁC ĐỊNH ĐÚNG VAI TRÒ, PHẠM VI ỨNG DỤNG CỦA CCUS TRONG LỘ
TRÌNH GIẢM PHÁT THẢI CỦA VIỆT NAM
Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Lê Trọng Yên nhấn mạnh “thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero)
vào năm 2050 của Việt Nam đang đặt ra yêu cầu đổi mới sâu sắc đối với mô hình
tăng trưởng, (đặc biệt trong thời điểm Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu tăng trưởng
2 con số); phương thức sản xuất và sử dụng tài nguyên.
Theo Thứ trưởng, quá trình đó cần gắn với
bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh môi trường và nâng cao năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp, tạo thêm động lực phát triển. Mỗi giải pháp giảm phát thải cần
được lựa chọn trên cơ sở khoa học, tính khả thi và điều kiện thực tế của Việt
Nam.
Đối với Việt Nam, các nghiên cứu bước đầu về lưu trữ CO₂
ngoài khơi, kinh nghiệm trong lĩnh vực dầu khí và nhu cầu chuyển đổi của các
ngành công nghiệp tạo cơ sở để xem xét những hướng ứng dụng cụ thể. Các giải pháp
sử dụng CO₂ trong sản xuất hóa chất, nhiên liệu, vật liệu xây dựng, cũng như kết
hợp thu giữ CO₂ với sản xuất hydro, đang mở ra thêm những hướng nghiên cứu và hợp
tác. Theo Thứ trưởng, mỗi hướng đi cần được đánh giá đầy đủ về điều kiện áp dụng, hiệu quả giảm
phát thải và khả năng phát triển thị trường.
Để chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc triển khai dự
án CCUS trong thực tế, Thứ trưởng Lê Trọng Yên cho rằng cần tập trung làm rõ,
xác định đúng vai trò và phạm vi ứng dụng của CCUS trong lộ trình giảm phát thải
của Việt Nam.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên. Ảnh: Tùng Đinh
“Chúng ta cần làm rõ những ngành, loại hình cơ sở và nguồn phát thải nào có điều kiện phù hợp để ưu tiên nghiên cứu. Việc lựa chọn phải tính đến đặc điểm công nghệ sản xuất, nồng độ CO₂, quy mô và tính ổn định của nguồn thải; đồng thời xem xét khả năng áp dụng các giải pháp giảm phát thải khác. Đối với từng trường hợp, cần trả lời được CCUS đóng góp như thế nào vào mục tiêu giảm phát thải và khả năng duy trì sản xuất hiệu quả của doanh nghiệp”.
Cùng với đó cần làm rõ cơ sở khoa học, điều kiện công nghệ
và yêu cầu an toàn trong toàn bộ chuỗi CCUS. Theo ông Yên, các nghiên cứu về tiềm
năng lưu trữ địa chất cần tiếp tục được cụ thể hóa bằng dữ liệu khảo sát, đánh
giá khả năng tiếp nhận CO₂, tính ổn định của tầng chứa và điều kiện giám sát. Đối
với hạ tầng dầu khí hiện có, cần đánh giá cụ thể khả năng chuyển đổi công năng,
chất lượng công trình và yêu cầu bảo đảm an toàn trước khi đề xuất tận dụng.
Phát triển CCUS liên quan đến nhiều lĩnh vực, từ môi trường,
địa chất, dầu khí đến công nghiệp, xây dựng và tài chính. Do đó, ông Yên cho rằng
cần rà soát các quy định pháp lý, đảm bảo tính thống nhất của các quy định, làm
rõ trách nhiệm của các bộ, cơ quan liên quan trong từng công đoạn.
Với việc trong thời gian tới sẽ xây dựng Luật Biến đổi khí hậu,
Thứ trưởng Lê Trọng Yên yêu cầu Cục Biến đổi khí hậu chủ trì, phối hợp với các
cơ quan liên quan tập trung nghiên cứu, thể chế hóa nội dung này trong dự thảo
Luật.
Liên quan đến việc xác định giải pháp huy động nguồn lực và
nâng cao năng lực triển khai trong nước, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường
đề nghị các doanh nghiệp, tổ chức tài chính và đối tác phát triển trao đổi về
chi phí toàn chuỗi, khả năng thu xếp vốn, phương án tiêu thụ sản phẩm và cách
phân bổ rủi ro giữa các bên…
Ông Nguyễn Tuấn Quang, Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu
Về hoàn thiện hệ thống pháp luật, cần sớm nghiên cứu, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến CCUS vào hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Việc thiết lập cơ chế đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) rõ ràng, ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia làm thước đo quản lý là nền tảng để xây dựng các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng nhằm thu hút đầu tư tư nhân.
“Để Việt Nam hiện thực hóa cam kết mục tiêu đạt mức phát thải
ròng bằng “0” vào năm 2050, theo ông Nguyễn Ngọc Thạch, Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường, cần có giải pháp công nghệ phù hợp, nguồn lực thực
hiện và sự tham gia của toàn xã hội. Trong bối cảnh đó, công nghệ CCS, CCUS mở ra hướng
tiếp cận trong quá trình giảm phát thải, đặc biệt đối với các ngành công nghiệp
khó cắt giảm phát thải”. Nhưng từ tiềm năng công nghệ đến khả
năng ứng dụng trong thực tế vẫn còn không ít vấn đề cần được làm rõ.
Các chuyên gia cho rằng hiện nay ở Việt Nam đã hình thành một
số điều kiện ban đầu để phát triển CCUS. Việt Nam có các nguồn phát thải CO₂ tập
trung từ các ngành công nghiệp và năng lượng; có tiềm năng lưu trữ CO₂ tại một
số bể trầm tích và mỏ dầu khí suy giảm ngoài khơi; đồng thời có kinh nghiệm, dữ
liệu địa chất và năng lực kỹ thuật của ngành dầu khí có thể được nghiên cứu, tận
dụng cho hoạt động vận chuyển, bơm ép và lưu trữ CO₂.
Bên cạnh đó, việc từng bước hình thành
thị trường carbon, phát triển tài chính xanh và hoàn thiện pháp luật liên quan
đến hoạt động dầu khí cũng tạo thêm cơ sở để nghiên cứu triển khai CCUS trong
thời gian tới.
Các chuyên gia trao đổi tại tọa đàm. Ảnh: Tùng Đinh
Đáng chú ý, Luật Dầu khí số 10/2026/QH16 được Quốc hội thông
qua ngày 23/8/2026 và có hiệu lực từ ngày 1/3/2027 đã bổ sung các quy định liên
quan đến hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon gắn với hoạt động dầu khí, góp phần
tạo cơ sở pháp lý ban đầu cho nghiên cứu, triển khai công nghệ này tại Việt
Nam.
TS. Nguyễn Thanh Tùng, Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam, nhận xét việc bổ sung các quy định liên quan đến thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon
trong Luật Dầu khí sửa đổi là bước tiến quan trọng, tạo cơ sở pháp lý ban đầu để
Việt Nam chuyển từ nghiên cứu tiềm năng sang từng bước triển khai các dự án
trong thực tế.
Tuy nhiên, để hình thành các dự án CCS/CCUS ở quy mô thương
mại, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện các quy định và hướng dẫn cho toàn bộ
vòng đời dự án, từ cơ chế phân lô, lựa chọn nhà đầu tư, khảo sát, đánh giá địa
điểm, cấp phép bơm ép, vận hành và giám sát đến đóng dự án và quản lý trách nhiệm
dài hạn.
Từ góc nhìn quốc tế, các chuyên gia cho rằng trong những điều
kiện phù hợp, CCS/CCUS có thể hỗ trợ giảm phát thải tại các ngành khó giảm phát
thải, thúc đẩy đổi mới công nghệ và góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của
các sản phẩm carbon thấp. Khả năng ghi nhận giá trị giảm phát thải trên thị trường
carbon còn phụ thuộc vào khung pháp lý, phương pháp luận và yêu cầu đo lường,
báo cáo, thẩm tra áp dụng cho từng cơ chế…
Sự kiện thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng đang thúc đẩy dòng vốn ngoại tìm đến các mô hình kinh tế tuần hoàn và sản xuất thực chất, mở ra dư địa tăng trưởng bền vững cho các mắt xích trong chuỗi cung ứng...
Singapore triển khai ba chương trình mới nhằm xây dựng đội ngũ chuyên gia trong nước, nâng cao năng lực đánh giá công nghệ hạt nhân tiên tiến và chuẩn bị cơ sở để cân nhắc khả năng phát triển điện hạt nhân trong tương lai. Tuy nhiên, quốc gia này khẳng định chưa đưa ra quyết định về việc sử dụng năng lượng hạt nhân...
Đặc thù của hàng đóng gói sẵn là người tiêu dùng khó tự kiểm chứng lượng thực tế tại thời điểm mua hàng. Vì vậy, đại biểu Quốc hội cho rằng cần làm rõ ngay trong luật trách nhiệm của cơ sở sản xuất, nhập khẩu đối với việc bảo đảm lượng hàng hóa; đồng thời, cần xác lập nguyên tắc kiểm soát phù hợp với mức độ rủi ro và đặc điểm từng nhóm sản phẩm, tránh quy định chung chung khiến việc phát hiện, xử lý vi phạm thiếu căn cứ thực hiện...
Qua đánh giá hiện trạng thu thập số liệu phục vụ kiểm kê phát thải khí nhà kính trong 6 lĩnh vực (năng lượng; các quá trình công nghiệp; xây dựng; giao thông vận tải; nông, lâm nghiệp và sử dụng đất; chất thải), cơ quan thống kê chỉ rõ những khoảng trống số liệu. Trên cơ sở đó, cơ quan này đề xuất bổ sung 217 chỉ tiêu thống kê mới phục vụ kiểm kê khí nhà kính cùng lộ trình triển khai đến năm 2030...
Vừa qua, trong khuôn khổ chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới châu Âu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã thúc đẩy hợp tác với EU, Đan Mạch và Bỉ về nông nghiệp bền vững, công nghệ sinh học, kinh tế biển xanh, bảo vệ môi trường và chống khai thác IUU.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Với thông điệp “Cà phê Hòa bình - Make coffee not war”, chuỗi hoạt động “Theo dấu chân 100 năm Cà phê Khe Sanh” kết nối những giá trị lịch sử, văn hóa và nông nghiệp. Đây cũng là dịp để Quảng Trị phát huy tiềm năng du lịch nông nghiệp, đưa câu chuyện cà phê trở thành điểm nhấn trong hành trình khám phá miền Tây của tỉnh.
Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...
Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...