Sáng 15/2, tiếp tục chương trình Kỷ họp bất thường lần thứ chín, Quốc hội nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thảo luận tại tổ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cho rằng, đất nước muốn phát triển nhanh, bền vững phải dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đây là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu.
Để tháo gỡ vướng mắc về thể chế liên quan, Chính phủ đã chỉ đạo tập trung sửa một loạt các luật như: Luật Ngân sách nhà nước, các luật thuế, Luật Doanh nghiệp, Luật Khoa học và công nghệ…; một số luật có thể trình tại Kỳ họp Quốc hội trong tháng 5 này.
Thủ tướng nhấn mạnh phải có các chính sách cụ thể hơn thì mới thực hiện được Nghị quyết 57, mới thực sự là đổi mới, đồng thời cần nghiên cứu bổ sung các cơ chế, chính sách đặc biệt chứ không chỉ là đặc thù. Sự đặc biệt này thể hiện ở một số điểm.
Thứ nhất là "cơ chế đặc biệt" trong phát triển kết cấu hạ tầng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bởi hạ tầng của Việt Nam đang rất yếu. Trong khi nguồn lực cần rất lớn, vì vậy ngoài nguồn lực Nhà nước, phải có cơ chế để huy động nguồn lực hợp tác công tư, từ doanh nghiệp, từ xã hội và người dân.
Thứ hai, cần "cơ chế đặc biệt" cho quản lý, quản trị hoạt động khoa học công nghệ, trong đó có các hình thức: lãnh đạo công và quản trị tư; đầu tư công và quản lý tư; đầu tư tư nhưng sử dụng công.
Thủ tướng ví dụ trong đầu tư công và quản lý tư, có thể đầu tư cho một hạ tầng khoa học công nghệ của Nhà nước nhưng giao cho tư nhân quản lý. Cơ chế đặc biệt là như thế. “Hay lãnh đạo công tức là chúng ta thiết kế chính sách, pháp luật, công cụ giám sát, kiểm tra, còn lại quản trị thì giao cho doanh nghiệp", theo Thủ tướng.
Thứ ba là cần "cơ chế đặc biệt" cho các nhà khoa học có thể thương mại hóa các công trình khoa học; "cơ chế đặc biệt" trong thủ tục, phân cấp, phân quyền cho tỉnh, thành phố, bộ, ngành; xóa bỏ cơ chế xin-cho, giảm thủ tục hành chính..., quản lý, đánh giá trên cơ sở hiệu quả tổng thể.
Thứ tư là vấn đề miễn trừ trách nhiệm khi xảy ra rủi ro đối với người soạn thảo, xây dựng chính sách nhưng chưa có cơ chế miễn trừ cho người thực hiện.
Theo Thủ tướng, đây là vấn đề khó, vì tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, nếu không có cơ chế bảo vệ người thực hiện thì sẽ dẫn đến tình trạng sợ trách nhiệm, "chuyển chỗ này, chỗ khác", "không muốn làm vì không được bảo vệ". Do đó, cần thiết kế thêm cơ chế miễn trừ trách nhiệm khi xảy ra rủi ro cho cả người tổ chức thực hiện và người thiết kế chính sách.
Thứ năm là "cơ chế đặc biệt" trong thu hút nguồn nhân lực, không chỉ để thu hút người làm ngoài khu vực Nhà nước vào khu vực Nhà nước, mà còn phát triển doanh nghiệp tư nhân về khoa học công nghệ, thu hút nhân lực nước ngoài vào Việt Nam để góp phần thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Các chính sách sẽ gồm thuế, phí, lệ phí, nhà cửa, chỗ ở, visa và hợp đồng lao động...
Thủ tướng cho rằng từ các "cơ chế đặc biệt" nêu trên, cần thiết kế "công cụ đặc biệt" để quản lý, phát huy hiệu quả và bảo đảm công khai, minh bạch, không xảy ra vi phạm, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí...




Từ giai đoạn hình thành ý tưởng sản phẩm, xây dựng kiến trúc hệ thống, thiết kế kiến trúc vi mạch đến các công đoạn kỹ thuật chuyên sâu như thiết kế vật lý (physical design), thiết kế phục vụ kiểm thử (DFT),... đều đã có sự tham gia của kỹ sư Việt Nam.
Tỷ lệ sử dụng IPv6 của Việt Nam đạt khoảng 70%, đứng thứ 7 thế giới và thứ 2 ASEAN, cao gấp 1,6 lần mức trung bình thế giới, với khoảng 95 triệu thuê bao Internet băng rộng hoạt động trên IPv6...
Trong bối cảnh khan hiếm chip nhớ đẩy chi phí sản xuất lên cao, thế hệ iPhone tiếp theo của Apple cùng nhiều sản phẩm khác như iPad và MacBook có thể sẽ có giá bán cao hơn...
Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng, việc Đà Nẵng ban hành nghị quyết về thực hiện thử nghiệm có kiểm soát các giải pháp công nghệ mới trên địa bàn thành phố, nhằm tạo ra một môi trường thử nghiệm và đánh giá các sản phẩm, mô hình công nghệ mới trước khi đưa vào ứng dụng rộng rãi là vô cùng cần thiết…
Suốt 35 năm đồng hành cùng dòng chảy kinh tế đất nước và các doanh nghiệp, sự tin cậy từ những dòng dữ liệu xác thực đã định hình nên vị thế vững chắc của Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy. Tuy nhiên trong kỷ nguyên mà thông tin không còn khoảng cách và công nghệ đang tái định hình xã hội, dòng chảy tri thức ấy không thể là những con số đứng yên...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.