
Tại phiên thảo luận chiều 4/11, Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIV, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đã giải trình về những vấn đề liên quan tới thủy điện được nhiều đại biểu quan tâm.
Hiện cả nước hiện có 429 đập thủy điện với các quy mô khác nhau, dung tích trữ nước 56 tỷ m3, công suất khoảng 20.000 MW, chiếm 37% công suất điện hiện nay.
"Đây là nguồn năng lượng rất quan trọng, phục vụ nhu cầu năng lượng trong quá trình phát triển", Bộ trưởng nhấn mạnh. "Trên thực tế ngoài chức năng phát điện, thủy điện còn có tác dụng tích nước và tùy thuộc công suất có thể cắt giảm lũ. Song một mặt nó cũng có tác động đến môi trường, nước, đất. Vì vậy, từ lâu vấn đề thủy điện rất được các cơ quan chức năng quan tâm".
Bộ trưởng cho biết, hàng năm đều có các cuộc kiểm tra giám sát chặt chẽ, đầy đủ theo đúng Nghị quyết 62 của Quốc hội về mức độ an toàn của các hồ đập thuỷ điện, sự vận hành của hệ thống các hồ đập thuỷ điện, nhất là sự tham gia của các hồ đập này trong phòng chống bão lũ, thiên tai tại địa phương. Đồng thời, thực hiện kiểm soát chặt chẽ không cho thuỷ điện xâm dụng đến rừng tự nhiên. Diện tích chiếm dụng đất trên các dự án được bổ sung quy hoạch đã giảm mạnh, chỉ còn 1,9 ha cho 1 MW điện.
"Điều này cho thấy chúng ta thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc theo chỉ đạo của Quốc hội", Bộ trưởng Bộ Công thương khẳng định.
Đánh giá về tác động, Bộ trưởng không phủ nhận tác động tiêu cực của thủy điện đến môi trường, cũng như đời sống dân sinh. Nhưng ông đánh giá, đây là vấn đề tổng thể, tùy thuộc vào cách thức khai thác của con người.
"Giai đoạn trước, nhiều thủy điện chiếm dụng đất rừng tự nhiên, ảnh hưởng rừng đầu nguồn, chức năng của rừng. Vì vậy, từ lâu, thủy điện đã được quan tâm đặc biệt. Giai đoạn 2016, Bộ Công Thương cùng các Bộ ngành đưa ra khỏi quy hoạch 472 dự án thủy điện, 8 dự án thủy điện bậc thang, đồng thời loại bỏ 213 điểm tiềm năng phát triển thủy điện khỏi quy hoạch phát triển", Bộ trưởng thông tin.
Liên quan tới công tác vận hành, Bộ trưởng cho biết đã có hàng loạt công cụ pháp lý, từ Luật xây dựng, Luật Bảo vệ tài nguyên nước, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng chống thiên tai, cho tới các văn bản hướng dẫn, giám sát để điều chỉnh hoạt động các thủy điện. Đồng thời, đã phân cấp và xác định rõ trách nhiệm, quy trình để bảo đảm yếu tố này. Các chủ hồ đập đã phối hợp với chính quyền địa phương thiết lập các hệ thống giám sát, quan trắc tự động về khí tượng thuỷ văn, đo mưa, giám sát hệ thống vận hành, có phương án phòng chống bão lụt tại địa phương, bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân.
Về hiệu quả và nguy cơ đặt ra trong việc xả lũ, Bộ trưởng cho biết công cụ pháp lý để quản lý tương đối đầy đủ, tuy nhiên cũng không tránh khỏi nhiều trường hợp sai phạm. Điển hình là trường hợp thuỷ điện Hố Hô năm 2016 xả lũ gây ngập lụt hạ du. Cơ quan chức năng đã thu giấy phép của thủy điện này, phạt nặng và khắc phục triệt để mới cho hoạt động trở lại.
Về việc thủy điện ảnh hưởng thế nào tới lũ bão, sạt lở và thậm chí động đất, Bộ trưởng Tuấn Anh cho biết qua khảo sát thực tế, báo cáo của địa phương và đánh giá của cơ quan chức năng, phải khẳng định rằng, câu chuyện sạt lở đất gây ra thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng và tài sản nhân dân vừa qua ở miền Trung gắn chặt với tính dị thường và cực đoan của thời tiết khi mà lượng mưa quá lớn, liên tục trong nhiều ngày, gây ra sạt lở nghiêm trọng.
Tuy nhiên, Bộ trưởng không phủ nhận câu chuyện liên quan đến mất rừng đầu nguồn có tác động của con người, trong đó có các dự án thuỷ điện.
"Không phủ nhận việc mất rừng đầu nguồn, thảm thực vật là những vấn đề do tác động của con người, từ các dự án như thủy điện. Tuy nhiên, do biến đổi khí hậu và những yếu tố cực đoan của thời tiết, chúng tôi cho rằng phải xác định việc đối phó với thiên tai bão lũ là câu chuyện mới", Bộ trưởng Tuấn Anh nhận xét.
Giải pháp được đưa ra là nghiên cứu khoa học, đưa ra cảnh báo cụ thể hơn, đặc biệt là lập bản đồ khu vực sụt lún, nguy cơ diễn biến cực đoan. Về thủy điện cần phải tăng cường quản lý hơn nữa.
"Tới đây, Bộ Công Thương sẽ làm việc với các địa phương, bộ ngành để có đánh giá cụ thể, chính xác, chặt chẽ về những hạn chế, tích cực để có tham mưu kịp thời cho Chính phủ siết chặt quản lý đối với thuỷ điện, hạn chế tối đa tác động tiêu cực nếu có, cũng như khai thác tốt nguồn tài nguyên của đất nước", Bộ trưởng cho biết.




Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy trân trọng giới thiệu bài viết của GS.TS.Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tiêu đề: "Thượng tôn Hiến pháp và Pháp luật – Động lực kiến tạo phát triển đất nước":
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu ngành than đẩy mạnh hiện đại hóa sản xuất, bảo đảm an toàn lao động, chăm lo đời sống công nhân và gắn khai thác tài nguyên với bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong muốn doanh nghiệp Nhật Bản mở rộng đầu tư, nghiên cứu và phát triển sản phẩm tại Việt Nam; cùng doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, gắn hợp tác công nghệ với nâng cao năng lực tự chủ và chất lượng nguồn nhân lực.
Nhận lời mời của Nhà nước Nhật Bản, ngày 8/11/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân Ngô Phương Ly và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời Thủ đô Hà Nội lên đường thăm chính thức Nhật Bản từ ngày 8 – 11/11/2026.
Đại biểu Quốc hội cho rằng các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai vẫn chủ yếu hướng đến các dự án, doanh nghiệp có quy mô lớn. Do đó, đề nghị cần bảo đảm hài hòa giữa thu hút các dự án du lịch quy mô lớn với phát triển du lịch cộng đồng và sự tham gia thực chất của người dân.
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều con số kỷ lục. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký đạt mức cao nhất kể từ năm 2009 đến nay (54,85 tỷ USD), vốn FDI thực hiện cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (24,08 tỷ USD). Cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, bán lẻ và du lịch, nền kinh tế Việt Nam đang chứng tỏ đà tăng trưởng vững chắc…
Lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký lập đỉnh cao nhất trong vòng 17 năm qua, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng. Tuy nhiên, diện tích gieo cấy lúa lại giảm tới hàng chục nghìn ha, bình quân vẫn còn tới 18,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thi trường. Đó là những điểm nhấn trong tổng quan bức tranh kinh tế Việt Nam 10 tháng qua.