![[Interactive]: 35 năm Thời báo Kinh tế Việt Nam – Tạp chí Kinh tế Việt Nam và 6 năm chuyển đổi toàn diện](https://premedia.vneconomy.vn/files/uploads/2026/06/27/0d243c3d27794968b9cd5ec41401bf10-100625.jpg?w=600&h=360&mode=crop)
Sáng 29/3, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Chương trình hỗ trợ kỹ thuật hậu gia nhập WTO tổ chức hội thảo “Báo cáo kết quả rà soát các trung tâm WTO tại Việt Nam”.
Theo TS. Nguyễn Mạnh Hùng, trưởng nhóm chuyên gia, mục đích của nghiên cứu là nhằm cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc kiện toàn, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các trung tâm WTO ở Việt Nam trong hệ thống điều phối, cung cấp thông tin về hội nhập kinh tế quốc tế trên phạm vi toàn quốc, từ đó giúp nâng cao năng lực quản lý và điều phối của các cơ quan chính phủ cấp Trung ương và địa phương cũng như tăng cường hỗ trợ doanh nghệp trong quá trình hội nhập.
Kết quả điều tra cho thấy, hiện cả nước có 4 trung tâm WTO, bao gồm Trung tâm tham vấn WTO Việt Nam, trung tâm WTO Đà Nẵng, trung tâm WTO của VCCI và trung tâm WTO Tp.HCM.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu, khảo sát cho thấy, ở cả 4 vùng kinh tế trọng điểm, tỷ lệ số doanh nghiệp hiện đang sử dụng dịch vụ của các trung tâm WTO còn khá thấp. Chỉ có 10,9% số doanh nghiệp trả lời rằng họ đã từng nhận được thông tin hội nhập từ các trung tâm WTO. Đối với các dịch vụ tư vấn pháp lý, tỷ lệ này chỉ chiếm 3,3% số doanh nghiệp; tập huấn và đào tạo 4,7%.
Theo nhóm nghiên cứu, tỷ lệ trên cho thấy có quá ít số doanh nghiệp hiện nay đang sử dụng ba loại hình dịch vụ cơ bản này của các trung tâm WTO và các trung tâm chưa hoạt động hiệu quả trong mối liên hệ với doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp có sử dụng dịch vụ của trung tâm WTO thì chỉ có 34,6% doanh nghiệp nói rằng “hài lòng”, trong khi “tạm hài lòng” với các dịch vụ của trung tâm WTO lên tới 60,2%. Số “không hài lòng” cũng lên tới 12,6%.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nhóm chuyên gia đã kiến nghị Chính phủ trước mắt không thành lập thêm các trung tâm WTO, kiện toàn các trung tâm hiện có, trong đó tập trung hướng tới việc phục vụ doanh nghiệp nhiều hơn.
(Nguồn: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)
Ông Đào Quang Bính, Phó Chủ tịch Hội đồng biên tập, Tổng giám đốc, Tổng thư ký toà soạn Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy, nhấn mạnh rằng báo chí và doanh nghiệp phải sát cánh cùng nhau, báo chí đưa thông tin về doanh nghiệp “đúng” nhưng phải “đáng”…
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đề xuất một số định hướng hợp tác trọng tâm giữa hai quốc gia trong thời gian tới như nâng cao chất lượng hợp tác thương mại, đa dạng hóa các mặt hàng xuất nhập khẩu; thúc đẩy đầu tư và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị mới; mở rộng hợp tác trong lĩnh vực khoa học - công nghệ...
Khi những biến động từ bên ngoài tiếp tục tạo áp lực lên hoạt động xuất khẩu, thị trường nội địa ngày càng được xem là điểm tựa quan trọng đối với doanh nghiệp Việt Nam. Việc mở rộng kênh phân phối hiện đại, kết hợp đa dạng hóa các dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng, đang góp phần tạo thêm động lực cho sức mua trong nước…
Kết quả thẩm tra và phê duyệt cập nhật Danh sách doanh nghiệp thủy sản Việt Nam được phép xuất khẩu vào thị trường Đài Loan là cơ sở quan trọng giúp các doanh nghiệp duy trì hoạt động xuất khẩu ổn định, nâng cao khả năng tiếp cận và mở rộng thị phần...
Trước “sức ép kép” từ những hạn chế cấu trúc nội tại và biến động khó lường mang tính toàn cầu, việc định hình giải pháp hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đây là động lực then chốt để hiện thực hóa mục tiêu đạt ít nhất 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030...
35 năm trước, Thời báo Kinh tế Việt Nam ra đời cùng với sự đổi mới, đặc biệt là đổi mới kinh tế của đất nước, đã đồng hành và có những đóng góp, dù còn rất nhỏ bé, cho công cuộc xây dựng kinh tế đất nước. Tròn 6 năm kể từ năm 2020, Tạp chí Kinh tế Việt Nam lại tiếp tục song hành cùng sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Và với sự ra mắt đồng thời hai nền tảng công nghệ Asko CMS và Askonomy vào ngày 26/6/2026, Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy - Vietnam Economic Times nguyện sẽ đồng hành cùng Kỷ nguyên vươn mình của đất nước.
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.