Tiếp thu ý kiến đại biểu, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã bổ sung nội dung lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm vào dự thảo nghị quyết về chương trình giám sát của Quốc hội năm 2018. Sáng 12/6, nghị quyết này đã được Quốc hội thông qua.
Trước đó, trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của đại biểu, Tổng thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho biết về cơ bản, đại biểu Quốc hội tán thành với tờ trình về dự kiến chương trình giám sát của Quốc hội năm 2018, tập trung vào các nhóm nội dung chính là xem xét báo cáo của các cơ quan hữu quan, chất vấn và trả lời chất vấn, giám sát chuyên đề và xem xét việc thực hiện kiến nghị sau giám sát.
Một số ý kiến đề nghị xem xét, đưa vào chương trình nội dung lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm theo quy định tại Nghị quyết 85/2014/QH13 của Quốc hội và xem xét việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và giám sát chuyên đề từ đầu nhiệm kỳ đến kỳ họp thứ 6.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải trình, theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân, tại kỳ họp cuối năm của năm giữa nhiệm kỳ, Quốc hội sẽ tiến hành giám sát lại việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về chất vấn, giám sát chuyên đề từ đầu nhiệm kỳ đến thời điểm đó.
Đồng thời, theo quy định tại Nghị quyết số 85/2014/QH13, Quốc hội cũng sẽ tổ chức lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu, phê chuẩn.
Do đó, sau khi cân nhắc nhiều mặt, để bảo đảm chất lượng, tính khả thi của chương trình giám sát năm 2018, về giám sát chuyên đề, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội chỉ giám sát một chuyên đề tại kỳ họp thứ 5, không tổ chức giám sát chuyên đề tại kỳ họp thứ 6 để tập trung cho các nội dung nêu trên.
Đồng thời, bổ sung nội dung lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm và xem xét việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về chất vấn, giám sát chuyên đề từ đầu nhiệm kỳ đến kỳ họp thứ 6 vào dự thảo nghị quyết.
Việc lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn đã từng được tiến hành hai lần trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá 13. Sau khi sửa Nghị quyết 35 thì việc này chỉ được tiến hành duy nhất một lần vào kỳ họp cuối năm của năm giữa nhiệm kỳ.
Chuyên đề duy nhất được lựa chọn để giám sát tối cao năm sau là việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, giai đoạn 2011-2016.
Đây là chuyên đề được 302/396 đại biểu chọn qua phiếu xin ý kiến, cao nhất trong 4 chuyên đề dự kiến.
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đánh giá Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm đã không ngừng phát triển, khẳng định vị thế là một trong những cơ quan báo chí kinh tế hàng đầu, uy tín của đất nước...
"Chúng tôi tin tưởng Tạp chí Kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ, hiện thực hóa mục tiêu trở thành tổ hợp truyền thông đa nền tảng, hiện đại, chất lượng cao, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước"...
Công tác chuẩn bị năm học 2026-2027 phải tạo chuyển biến thực chất trong nhà trường, đội ngũ giáo viên và người học, đồng thời cụ thể hóa Nghị quyết 71-NQ/TW bằng nhiệm vụ, nguồn lực, thời hạn và trách nhiệm rõ ràng.
Dự thảo Nghị định mới về kinh doanh xăng dầu tập trung tái cơ cấu hệ thống phân phối, cắt giảm khâu trung gian và bắt buộc số hóa dữ liệu. Việc hoàn thiện khung pháp lý này nhằm minh bạch hóa thị trường, bảo đảm an ninh năng lượng và duy trì nguồn cung ổn định cho nền kinh tế trong mọi tình huống…
Báo chí Cách mạng Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong việc giám sát xã hội và phản biện chính sách. Chính năng lực giám sát, phản biện đã thúc đẩy việc hoàn thiện thể chế, tạo nên uy tín và sức mạnh cho báo chí với tư cách một “quyền lực thứ tư” trong đời sống hiện đại.
Kinh tế ngày nay không còn là một lĩnh vực tách biệt, mà được định hình mạnh mẽ bởi địa chính trị, công nghệ và tính bền vững. Giữa dòng chảy thông tin dồi dào, điều độc giả cần nhất ở báo chí chính thống là bối cảnh, góc nhìn chuyên sâu và sự tin cậy. Trong giai đoạn tới, sứ mệnh lớn nhất của báo chí kinh tế không phải là trở thành người đưa tin nhanh nhất, mà là trở thành nền tảng tinh thần của nền kinh tế.
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.