
Bên lề Diễn đàn Chính sách an ninh năng lượng ASEM lần thứ nhất tổ chức tại Hà Nội ngày 11/4/2008, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Hữu Hào đã trả lời phỏng vấn về tình trạng thiếu điện hiện nay.
>>
Điện cho mùa nóng: Sẽ huy động mọi nguồn!
Ông nhận xét như thế nào về tình trạng cắt điện tràn lan hiện nay?
Việc cắt điện là ngoài ý muốn của tất cả mọi người. Đó là do những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn tới.
Về khách quan, thứ nhất là do phụ tải. Năm ngoái, đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt trên 20 tỉ USD. Bên cạnh đó, các dự án đầu tư trong nước cũng tăng lên. Rõ ràng là tốc độ đầu tư làm phụ tải tăng lên, đòi hỏi chúng ta phải tăng hơn gấp đôi nguồn điện.
Thứ hai là thời tiết, hạn năm nay rất sớm. Nước được ưu tiên phục vụ cho tưới tiêu nhằm bảo đảm an ninh lương thực.
Thứ ba là nguyên nhân chủ quan do các nhà máy của chúng ta đưa vào hoạt động chậm hơn so với kế hoạch.
Nguyên nhân thứ tư là quá trình vận hành. Một số nhà máy đưa vào vận hành nhưng gặp sự cố, điều này nằm ngoài ý muốn. Như Uông Bí vừa rồi đưa vào hoạt động nhưng chưa ổn định, một loạt các đường ống dẫn khí đưa vào sửa chữa... Cắt điện là trách nhiệm của EVN và phải làm thế nào hài hòa không để ảnh hưởng đến sản xuất.
Bộ Công Thương dự kiến tình trạng cắt điện sẽ kéo dài bao nhiêu năm?
Nếu thực sự tính thì từ nay đến năm 2020, chúng ta luôn trong tình trạng thiếu điện chứ không chỉ có năm nay. Đó là quá trình lâu dài bởi vì ngành điện của Việt Nam luôn luôn chạy theo tốc độ phát triển cao trong khi nguồn lực có hạn.
Hơn nữa, vấn đề tổn thất của nguồn điện dẫn đến nguồn lực không đáp ứng kịp với nhu cầu. Chúng ta không có dự phòng. Thông thường, với lượng dự phòng khoảng 500-1.000 Mw, khi có sự cố sẽ không gây ảnh hưởng chung.
Vậy có cơ chế nào để khuyến khích các dự án của tư nhân tham gia đầu tư thủy điện?
Thực tế, rất nhiều doanh nghiệp muốn tham gia đầu tư. Ngay như dự án điện Nghi Sơn 2 khi đấu thầu có 30-40 doanh nghiệp muốn tham gia nhưng đến lúc đàm phán về giá mới có vấn đề. Hiện nay, giá dầu tăng gấp 5-6 lần trước đây, giá than, xi măng, thép cũng tăng gấp đôi.
Các nhà đầu tư rất khó đầu tư khi giá các đầu vào xây dựng tăng gấp đôi nhưng giá điện bán ra chỉ như cũ. Bối cảnh như vậy đang đặt EVN trong tình thế khó khuyến khích. Khuyến khích để rồi phải mua giá cao.
Như vậy, EVN sẽ lỗ và ai sẽ bù lỗ. Cho nên đã đến lúc đặt ra vấn đề chấp nhận giá điện cao theo thị trường nhưng phải bảo đảm đủ điện.
Ông có nhận thấy việc luồng vốn FDI đổ vào nhiều trong khi nguồn điện không đủ cung cấp đang tạo mâu thuẫn lớn?
Đúng là đầu tư nước ngoài tăng đột biến. Chỉ một năm vừa qua đã thu hút bằng chục năm cộng lại. Từ trước tới nay mới thu hút được 60 tỉ USD vốn FDI, riêng năm ngoái góp phần tăng lên thành 80 tỉ USD.
Do đó, việc thiếu điện là đương nhiên nhưng chúng ta sẽ cố gắng đảm bảo đủ. Thực ra, nếu như năm nay nước hồ Hòa Bình không bị hạn thì cũng không có vấn đề gì lớn lắm. Sau năm 2015, tình hình sẽ ổn định hơn vì lúc đó thủy điện Sơn La đi vào hoạt động. Sơn La có lượng dự trữ nước tương đối lớn.
Chính phủ vừa đề nghị không tăng giá 10 mặt hàng trong đó có điện. Điều đó ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của các công ty sản xuất điện?
Như tôi nói ở trên, giá cả đầu vào tăng trong khi đầu ra không tăng được rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến kêu gọi đầu tư nước ngoài. Đầu ra không tăng được thì EVN không thể mua điện với giá cao của các nhà sản xuất dự án điện độc lập. Không mua được sẽ ảnh hưởng đến quá trình đầu tư.
Hơn nữa giá năng lượng hiện nay cao như giá than, khí tăng gấp đôi, hơn nữa thị trường dầu khí rất khó lường. Nguyên tắc mua điện phải tính lộ trình 10-15 năm chứ không thể tính giá ngay được. Nên việc đàm phán giá nhập khẩu rất khó khăn. Kể cả những dự án được phép của Chính phủ đầu tư điện độc lập đều chậm. Gần năm nay chưa đàm phán được vì giá thay đổi không lường được.
Theo ông, đâu là giải pháp để khắc phục tình trạng thiếu điện hiện nay?
Trước tiên là phải đẩy phần nguồn lên. Đó là giải pháp quan trọng. Tức là làm sao để những dự án trọng điểm như Cà Mau 2, Tuyên Quang, tổ máy số 1 của Sơn La sớm đi vào hoạt động.
Thứ hai là, phải có hệ thống truyền tải điện ổn định, khoa học không ảnh hưởng làm mất cân đối nguồn điện.
Thứ ba là giảm tổn thất xuống dưới 8-9%. Hiện nay, tổn thất điện của chúng ta khoảng 11%.
Thứ tư là tiết kiệm điện. Hiện nay, Bộ Công Thương đã có những chương trình tiết kiệm năng lượng.
Cuối cùng là cải tổ lại cơ cấu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, phối hợp tốt giữa các nhà sản xuất điện để có được nguồn điện dự trữ từ 500-1.000 Mw mới có thể đảm bảo an ninh năng lượng.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.