Thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, năm 2021, có hơn 1,4 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, tăng 28% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 2,94% lực lượng lao động trong độ tuổi là nông dân và lao động khu vực phi chính thức.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa có công văn gửi Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề nghị hướng dẫn mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện giai đoạn 2022-2025.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, quá trình tổ chức thu bảo hiểm xã hội tự nguyện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện, Nghị định số 07/2021/NĐ-CP quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 còn có vướng mắc phát sinh.
Cụ thể, theo quy định tại khoản 5 Điều 10 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện, trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đóng theo một trong các phương thức 3 tháng, 6 tháng hoặc 12 tháng một lần, hoặc đóng một lần cho nhiều năm về sau mà trong thời gian đó thực hiện mức chuẩn nghèo mới (ngày 1/1/2022) thì không phải điều chỉnh mức chênh lệch số tiền đã nộp.
Tuy nhiên, đối với trường hợp người tham gia nêu trên đóng trong năm 2022 thì xác định số tiền người tham gia phải nộp như thế nào? Bảo hiểm xã hội Việt Nam đưa ra ví dụ: ông A đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện theo phương thức 12 tháng, từ tháng 10/2021 đến tháng 9/2022.
Thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, năm 2021, có hơn 1,4 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, tăng 28% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 2,94% lực lượng lao động trong độ tuổi là nông dân và lao động khu vực phi chính thức.
Ngày 5/1/2022, ông A đóng tiền cho thời gian từ tháng 10/2021 đến tháng 9/2022. Trường hợp này áp dụng chuẩn nghèo như thế nào để tính số tiền đóng đối với ông A (đóng cho các tháng của năm 2021 và các tháng của năm 2022)?
Bảo hiểm xã hội Việt Nam đề xuất, áp dụng mức chuẩn nghèo năm 2021 (700.000 đồng/người/tháng) để tính số tiền đóng cho 2 tháng của năm 2021; áp dụng mức chuẩn ngheo mới (1.500.000 đồng/người/tháng) để tính thu cho 10 tháng của năm 2022.
Lý giải về đề xuất này, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho rằng, chuẩn nghèo mới thực hiện từ ngày 1/1/2022 và người tham gia nộp tiền trong thời hạn của phương thức đóng đã đăng ký.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng nêu ví dụ về các trường hợp vướng mắc khác, chẳng hạn năm 2021, ông B đăng ký đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện theo phương thức hàng tháng, trong tháng 12/2021 ông B chưa đóng tiền vào quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Tháng 1/2022, ông B có nguyện vọng đóng bù tháng 12/2021. Trường hợp này áp dụng mức thu nhập tháng bằng mức chuẩn nghèo cũ (700.000 đồng) hay mức mới là 1.500.000 đồng để tính số tiền phải nộp?
Với những vướng mắc này, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đề nghị Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sớm có hướng dẫn để cơ quan này tổ chức thực hiện theo quy định của pháp luật.
Từ ngày 1/1/2022, theo quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 tại Nghị định số 07/2021/NĐ-CP của Chính phủ, mức chuẩn nghèo của khu vực nông thôn tăng từ 700.000 đồng lên 1.500.000 đồng/tháng. Theo đó, mức Nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện và mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện tối thiểu năm 2022 cũng tăng theo.
Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, hiện trong năm 2022, do chưa thực hiện cải cách tiền lương nên lương cơ sở năm 2022 vẫn là 1.490.000 đồng/tháng. Vì thế, mức thu nhập đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện tối đa là: 1.490.000 đồng x 20= 29.800.000 đồng/tháng.



Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thực hiện chuyển đổi thành công mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người trên phần mềm Thu và quản lý sổ, thẻ (TST), đạt 99,17% tổng số người thuộc phạm vi chuyển đổi...
Quan sát diễn biến mạnh lên, El Nino đã có những tác động đến thời tiết Việt Nam với nền nhiệt cao hơn so trung bình nhiều năm. Đáng chú ý trong nửa đầu tháng 10/2026, đã ghi nhận 59 trạm khí tượng có nhiệt độ cao nhất ngày đạt và vượt giá trị lịch sử cùng thời kỳ...
Kết quả rà soát cho thấy cấu trúc hệ thống pháp luật năng lượng hiện hành được thiết kế theo tư duy quản lý từng phân ngành độc lập, thiếu hụt cơ chế pháp lý tổng thể để điều tiết sự liên thông giữa các thị trường năng lượng sơ cấp và thứ cấp...
Việc sử dụng tài khoản hưởng an sinh xã hội trên ứng dụng VNeID trong chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp hướng tới nâng cao tính thuận tiện, an toàn, minh bạch, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người thụ hưởng…
Bộ Tài chính tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, giảm thủ tục, giảm chi phí và khơi thông nguồn lực để triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và thanh niên khởi nghiệp...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Thực tế, sau 9 tháng năm 2026, dù kinh tế ghi nhận nhiều kết quả tích cực, chỉ có 12/34 tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng hai con số. Bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà còn là nâng cao năng lực thực thi và chuyển hóa nguồn lực thành giá trị thực chất.