Ông đánh giá như thế nào về những thay đổi trong quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW và phát triển chuyển đổi số tại TP. Hồ Chí Minh?
Từ khi Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết 57) được ban hành, thể chế, chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho phát triển hạ tầng số, kinh tế số và xã hội số.
Trong năm 2026, TP. Hồ Chí Minh đặt ba mục tiêu lớn, gồm: thu ngân sách trên 1 triệu tỷ đồng, tăng trưởng GDP trên hai con số và giải ngân đầu tư công 100%. Trong đó, kinh tế số, hạ tầng số và dữ liệu số sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nói chung và đóng góp vào GDP của Thành phố.
Cùng với việc hoàn thiện thể chế, cách tiếp cận đối với công nghệ cũng đang thay đổi. Ngày 28/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1671/QĐ-TTg về Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo (AI) đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Từ dữ liệu lớn, các mô hình tính toán và hạ tầng tính toán hiệu năng cao, AI có thể giúp nâng cao năng suất, chất lượng và thúc đẩy các lĩnh vực còn nhiều dư địa như nông nghiệp, logistics, hàng không, vận tải.
Nếu chuyển đổi số giúp rút ngắn quy trình, cải cách hành chính và tăng tốc độ xử lý công việc, AI có thể giúp tăng năng suất, chất lượng và tạo thêm động lực cho tăng trưởng. Hay nói cách khác, thay vì tích hợp AI vào các quy trình, mô hình kinh doanh có sẵn, thì hiện nay lấy AI làm lõi để thiết kế lại quy trình, hệ thống và xây dựng các mô hình kinh doanh mới.
Một trong những điểm nghẽn lớn của các đô thị hiện nay là dữ liệu bị phân mảnh. Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh đang có những giải pháp nào để kết nối, chia sẻ và liên thông dữ liệu?
Đối với các mô hình ngôn ngữ lớn và các mô hình AI, dữ liệu đầu vào có vai trò hết sức quan trọng. Dữ liệu phải “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất và dùng chung” thì mới có thể ứng dụng các mô hình AI hoặc công cụ khai phá dữ liệu để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Đây là vấn đề lớn không chỉ của TP. Hồ Chí Minh mà còn của nhiều địa phương. Luật Dữ liệu đã quy định về chủ thể tạo lập, sở hữu, trung gian xử lý dữ liệu. Theo đó, các cơ quan chuyên ngành là chủ thể tạo lập, sở hữu và có quyền đối với dữ liệu của mình.
Ở góc độ của Trung tâm chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chúng tôi phối hợp với các cơ quan khác của thành phố để kết nối, chia sẻ dữ liệu.Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta không thể đòi hỏi tất cả các trường dữ liệu của các cơ quan phải giống nhau. Điều quan trọng là chuẩn hóa và từng bước kết nối để phục vụ chia sẻ, truy xuất.
Trung tâm cũng đang thực hiện dự án IOC - Trung tâm Giám sát, điều hành chung tại số 6 Tú Xương, kết nối dữ liệu từ các phường, xã, đặc khu cũng như các sở, ban, ngành của Thành phố, hướng tới xử lý dữ liệu theo thời gian thực.
Đặc biệt, chiến dịch cao điểm 100 ngày làm việc (từ ngày 10/7/2026 đến hết ngày 30/11/2026) nhằm xử lý dứt điểm các điểm nghẽn về chuyển đổi số. Với quyết tâm cao độ, Thành phố kỳ vọng tạo ra bước chuyển biến thực chất, rõ rệt trong phương thức lãnh đạo, quản trị, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp dựa trên dữ liệu.
Kết quả triển khai Đề án 06 tháng 9/2026 cho thấy Thành phố đã thu thập 25/39 danh mục dữ liệu, đạt 64%; 31.768 địa điểm đã được chuẩn hóa tương đối đầy đủ về kinh độ, vĩ độ và đơn vị hành chính. Kho dữ liệu Thành phố cũng đã kết nối với Trung tâm Dữ liệu quốc gia trên môi trường thử nghiệm.
Chiến dịch 100 ngày vẫn đang được triển khai nên Trung tâm sẽ có đánh giá cụ thể hơn sau khi hoàn tất tổng hợp.
Một vấn đề khác được người dân quan tâm là hiện có quá nhiều ứng dụng của các cơ quan khác nhau. Làm thế nào để các ứng dụng này liên thông, đồng bộ dữ liệu và tránh việc người dân phải sử dụng quá nhiều nền tảng?
Quan điểm của Trung ương cũng như của Thành phố là dữ liệu phải được thống nhất và dùng chung. Khung Kiến trúc dữ liệu quốc gia đã được ban hành, trong đó quy định rõ các ứng dụng mà các bộ, ngành sẽ đầu tư và thống nhất để các địa phương sử dụng. Nếu nằm trong danh sách này thì địa phương sẽ không đầu tư riêng, qua đó giảm bớt các đầu mối.
Các phường, xã cũng cần thống nhất sử dụng hệ thống của Thành phố, thay vì tự phát triển những ứng dụng chỉ phục vụ phạm vi cục bộ. Điều quan trọng nhất là phải thống nhất về việc dùng chung và liên thông dữ liệu.
Hiện nay, ứng dụng Công dân số TP. Hồ Chí Minh đã có hơn 1,2 triệu người tải và sử dụng, với hơn 7 triệu lượt tương tác. Ứng dụng đã tích hợp nhiều tiện ích, như Miniapp SOS về an ninh trật tự của Công an Thành phố, dữ liệu của ngành giáo dục, học bạ học sinh và dữ liệu của ngành y tế.
Gần đây, chúng tôi cũng tích hợp dữ liệu của công đoàn viên. TP. Hồ Chí Minh hiện có khoảng 2,2 triệu công đoàn viên, trong đó Liên đoàn Lao động đã tích hợp hơn 1,8 triệu đầu dữ liệu.
Nếu tích hợp các dịch vụ vào một ứng dụng theo hướng “siêu ứng dụng”, người dân có thể tiếp cận nhiều dịch vụ thông qua một đầu mối thay vì phải sử dụng quá nhiều ứng dụng khác nhau.
Tuy nhiên, yếu tố rất quan trọng để người dân sử dụng thường xuyên là “tính hữu ích”. Công nghệ phải giải quyết được nhu cầu thực tế thì người dân mới có lý do quay trở lại.
Một số mô hình tại các thành phố ở Trung Quốc, Anh, Australia hay Hoa Kỳ cho thấy ứng dụng số có thể tích hợp nhiều nhu cầu, từ xem truyền hình, đọc báo đến thông tin về vé, chương trình giảm giá hay các dịch vụ thiết yếu.
TP. Hồ Chí Minh cũng hướng tới cung cấp thêm nhiều dịch vụ thiết thực trên nền tảng số. Khi người dùng có thể tiếp cận thông tin, so sánh giá cả, tìm kiếm thông tin về chăm sóc sức khỏe hoặc sử dụng các dịch vụ thiết yếu trên cùng một ứng dụng, họ sẽ có thêm lý do để sử dụng thường xuyên hơn.
Nếu nhìn trên phương diện trải nghiệm người dùng, ông đánh giá ứng dụng Công dân số TP. Hồ Chí Minh còn dư địa phát triển nào và Thành phố đã triển khai các hoạt động phổ cập kỹ năng số ra sao?
Hiện nay, chưa có một bảng xếp hạng thống nhất để đánh giá ứng dụng số nào tốt hơn. Các địa phương cũng có những ứng dụng khác nhau, như Hà Nội có iHanoi, TP. Hồ Chí Minh có ứng dụng Công dân số và Huế cũng có nền tảng riêng.
Vì vậy, chúng tôi chú trọng các tiêu chí phục vụ người dùng, như giao diện có thân thiện, trải nghiệm có thuận tiện và ứng dụng có giúp người dân giải quyết công việc nhanh hơn hay không.
TP. Hồ Chí Minh có quy mô dân số rất lớn, trong khi ứng dụng Công dân số mới có hơn 1,2 triệu lượt cài đặt, nên dư địa mở rộng còn rất lớn. Thành phố phải tiếp tục cung cấp những dịch vụ đủ thiết thực, đáp ứng nhu cầu của người dân ở các khu vực khác nhau, trong đó có những địa bàn xa trung tâm.
Song song đó, TP. Hồ Chí Minh đã phát động phong trào Bình dân học vụ số, phổ cập kỹ năng số từ ngày 11/10/2025. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố, Sở Khoa học và Công nghệ cùng Trung tâm Chuyển đổi số phối hợp triển khai.
Đến nay, chỉ riêng Trung tâm Chuyển đổi số đã tổ chức khoảng 174 lớp với khoảng 38.000 người tham gia. Qua triển khai, nhu cầu cũng thay đổi: từ những kiến thức chung về chuyển đổi số và công nghệ mới sang các tình huống xử lý cụ thể, tức là không chỉ “biết” mà phải “làm được”. Năm nay, chúng ta đang hướng tới bước tiếp theo là phải cải tiến và đổi mới sáng tạo được.
Nếu nhìn xa hơn, liệu Việt Nam có thể xây dựng một nền tảng trung tâm, tích hợp nhiều loại dữ liệu và dịch vụ hay còn gọi là “siêu ứng dụng” để người dân sử dụng?
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần trở lại một khái niệm cơ bản về công dân số.
Có thể hình dung hệ sinh thái số như một ngôi nhà. Phần móng ban đầu chính là hạ tầng số. Hạ tầng số càng vững chắc thì các lớp bên trên mới có thể phát triển ổn định. Hạ tầng số luôn đi kèm yêu cầu về an toàn, an ninh thông tin.
Khi đã có nền móng và bảo vệ được nền móng đó, chúng ta xây dựng các ứng dụng số trên nền tảng. Khi có ứng dụng, chúng ta cần dữ liệu để các dịch vụ hoạt động hiệu quả.
Theo cách hình dung này, VNeID có thể được xem như một nền tảng trung tâm như vậy được xây dựng trên nền hạ tầng và hệ thống xác thực thống nhất. Trên nền tảng đó có thể tích hợp nhiều dịch vụ thuộc các lĩnh vực khác nhau.
Nếu tiếp tục phát triển theo hướng này, người dân có thể tiếp cận nhiều dịch vụ thông qua một đầu mối, thay vì phải sử dụng quá nhiều ứng dụng riêng lẻ.
Trong tương lai, khi dữ liệu được kết nối và khai thác hiệu quả hơn, dữ liệu không chỉ phục vụ quản lý mà còn có thể tạo ra giá trị kinh tế.
Chúng ta đang hướng tới các sàn giao dịch dữ liệu. Khi đó, dữ liệu của doanh nghiệp có thể trở thành một phần tài sản có giá trị, góp phần phản ánh đầy đủ hơn giá trị của doanh nghiệp và thương hiệu.
Từ dữ liệu, chúng ta có thể nhìn thấy những xu hướng về dịch bệnh, thương mại, hay là phát triển nền kinh tế bạc sau này dựa vào các nhu cầu chăm sóc sức khỏe. Đây là những giá trị rất lớn mà dữ liệu có thể mang lại cho quá trình phát triển của Việt Nam.
Ông có nói về tính giá trị của dữ liệu nhưng làm thế nào để người dân có thể tin tưởng và yên tâm chia sẻ dữ liệu cá nhân khi sử dụng các nền tảng số?
Hiện nay, chúng ta đã có Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, trước đó có Nghị định số 13/2023/NĐ-CP và nay là Nghị định số 356/2025/NĐ-CP. Hành lang pháp lý về bảo vệ dữ liệu ngày càng chặt chẽ hơn. Một mặt, chúng ta phải nâng cao nhận thức của người dân về việc tự bảo vệ dữ liệu. Không thể chỉ có một cơ quan đứng ra bảo vệ từng người dân trong mọi tình huống; bản thân người dùng cũng phải có trách nhiệm bảo vệ thông tin của mình.
Mặt khác, các doanh nghiệp và đối tác của mình cũng phải tuân thủ các quy định pháp luật về dữ liệu, trong đó có những yêu cầu liên quan đến việc lưu trữ, xử lý và chuyển dữ liệu xuyên biên giới.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng đã phối hợp với các nước và Interpol để xử lý các hình thức lừa đảo trên mạng, bắt cóc trực tuyến và những thủ đoạn lừa đảo xuyên biên giới. Có thể nói, tình trạng các cuộc gọi lừa đảo đã giảm đáng kể.
Tuy nhiên, các cuộc tấn công mạng vẫn là vấn đề cần đặc biệt lưu ý. Số lượng có thể giảm nhưng mức độ nghiêm trọng của từng vụ việc có thể tăng lên.
Trước đây, các cuộc tấn công mã hóa, đóng băng dữ liệu để đòi tiền chuộc có thể khiến những doanh nghiệp lớn thiệt hại hàng triệu USD. Vì vậy, doanh nghiệp phải chủ động sao lưu dữ liệu, có phương án dự phòng và chuẩn bị các biện pháp phòng ngừa trước những phương thức, thủ đoạn tấn công mới.
Ông kỳ vọng AI sẽ tạo ra thay đổi quá trình chuyển đổi số như thế nào trong giai đoạn tiếp theo?
Năm 2027, chúng tôi sẽ thúc đẩy mạnh hơn việc ứng dụng các mô hình AI vào những trường hợp cụ thể.
Hiện nay, chúng ta thường nói nhiều đến AI tạo sinh (Gen AI), với khả năng tạo văn bản, hình ảnh và hỗ trợ nhiều công việc. Nhưng các mô hình AI tác nhân (AI Agent) đang tiến thêm một bước: có khả năng ghi nhớ, lập kế hoạch và thực thi nhiệm vụ.
Đây sẽ là giai đoạn chúng ta đưa các ứng dụng này vào những trường hợp cụ thể để rút ngắn thời gian xử lý công việc. Một tác nhân AI có thể thực hiện một số công việc trước đây cần đến nhân viên, từ đó mở ra những cách thức tổ chức công việc và mô hình kinh doanh mới.
Cũng nhờ AI, chúng ta có thể hình thành những mô hình doanh nghiệp rất mới. Chẳng hạn, có thể xuất hiện mô hình doanh nghiệp chỉ có một người nhưng sử dụng nhiều tác nhân AI để thực hiện các nhiệm vụ khác nhau. Con người khi đó đóng vai trò giám sát, giao việc, kiểm soát và đưa ra quyết định cuối cùng.
TP. Hồ Chí Minh đang đặt mục tiêu xây dựng ít nhất hai trung tâm dữ liệu và các khu công nghệ số tập trung. Ông đánh giá thế nào về tiềm năng thu hút doanh nghiệp công nghệ lớn tham gia đầu tư vào lĩnh vực này?
Ở quy mô cả nước, chúng ta đang hướng tới tổng công suất điện khoảng 500 MW cho các trung tâm dữ liệu vào năm 2030. Hiện cả nước có hơn 40 trung tâm dữ liệu lớn, nhỏ, trong đó TP.HCM có khoảng 20.
Tại TP. Hồ Chí Minh, đã có những dự án và địa điểm được quan tâm như Khu công nghệ cao tại khu vực Thủ Đức, Tân Thuận và khu vực Củ Chi, trong đó có Khu công nghiệp Tân Phú Trung.
Đặc biệt, chúng ta đang quan tâm đến các trung tâm dữ liệu phục vụ AI, bởi đây là lĩnh vực có nhu cầu tính toán rất lớn.
Gần đây có những thông tin về các nhà đầu tư muốn phát triển những trung tâm dữ liệu quy mô lớn tại Việt Nam, trong đó có những đề xuất với tổng vốn đầu tư lên tới hàng tỷ USD. TP.HCM luôn chào đón các nhà đầu tư nước ngoài và các dự án trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, để triển khai một dự án trung tâm dữ liệu quy mô lớn không thể thực hiện trong thời gian ngắn. Đây là lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn rất lớn.
Theo những thông tin chúng tôi được biết, suất đầu tư cho trung tâm dữ liệu có thể từ 6 - 8 triệu USD cho mỗi MW. Vì vậy, với những trung tâm dữ liệu có công suất hàng trăm MW, tổng mức đầu tư sẽ là một con số rất lớn.
Trước mắt, có hai vấn đề quan trọng cần giải quyết: nguồn điện và khả năng tiếp cận các chip tính toán hiệu năng cao.
Các trung tâm dữ liệu, đặc biệt là trung tâm dữ liệu phục vụ AI, cần nguồn điện ổn định và liên tục. Trong khi đó, việc cung cấp các loại chip tính toán hiệu năng cao còn phụ thuộc vào chính sách kiểm soát và cấp phép xuất khẩu của các quốc gia cung cấp.
Do đó, chúng ta vẫn phải giải quyết bài toán tiếp cận nguồn chip chất lượng cao để phục vụ các trung tâm tính toán hiệu năng cao.
Thông qua Trung tâm Tài chính quốc tế, ngày càng có nhiều doanh nghiệp lớn nước ngoài tiếp cận, tìm hiểu và đánh giá cơ hội đầu tư tại Việt Nam. Trong thời gian tới, có thể sẽ xuất hiện thêm những nhà đầu tư, doanh nghiệp và dự án mới trong lĩnh vực trung tâm dữ liệu, đặc biệt tại TP. Hồ Chí Minh.
Trải qua hơn bảy thập kỷ kể từ ngày tiếp quản Thủ đô năm 1954, công nghiệp Hà Nội từng bước phát triển, trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Bước vào năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực khi tăng trưởng 9 tháng đạt mức cao nhất trong gần một thập kỷ, góp phần thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế Thủ đô.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, TS. Lương Quang Huy, Trưởng phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng ozone, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh rằng kiểm kê khí nhà kính không chỉ là nghĩa vụ tuân thủ đơn thuần với các doanh nghiệp, mà đã trở thành nền tảng cạnh tranh trong bối cảnh yêu cầu tiêu chuẩn xanh, giảm phát thải, ESG… của các thị trường, đối tác quốc tế ngày càng khắt khe.
Trong cuộc trả lời phỏng vấn Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, TS.Hà Văn Siêu, Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, khẳng định thước đo của một điểm đến không chỉ nằm ở số lượng du khách, mà còn ở thời gian họ lưu trú, mức chi tiêu và giá trị để lại cho nền kinh tế. Với Việt Nam, bài toán nâng chất lượng du lịch vì thế không đơn thuần là phát triển thêm những sản phẩm cao cấp, mà là xây dựng một hệ sinh thái đủ sức kéo dài hành trình, mở rộng trải nghiệm và đưa nhiều hơn dòng tiền du lịch vào doanh nghiệp, địa phương và cộng đồng...
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Tuyệt đối không để nền kinh tế thiếu điện và thiếu xăng dầu, đó là khẳng định từ Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi. Kịch bản tăng trưởng kinh tế 3 tháng cuối năm cũng được xác định rõ để từng bộ, từng địa phương đều hoàn thành kế hoạch của cả năm, đưa kinh tế cả nước đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.