
Mục tiêu giữ lạm phát ở một con số được nhìn nhận là khó thực hiện. Câu chuyện lạm phát năm nay tạo nhiều dư luận về công tác dự báo và kiểm soát lạm phát.
"Dự báo lạm phát của chúng ta còn nặng về cảm tính. Tính chính xác của dự báo, kể cả dự báo ngắn hạn bị hạn chế nhiều, vì chưa được xây dựng dựa trên những căn cứ chắc chắn và khoa học", TS. Vũ Đình Ánh, một chuyên gia kinh tế, nói.
Chỉ số tăng giá (CPI) năm nay khó giữ ở mức một con số, khi hai tháng cuối năm là thời điểm tăng giá hàng hóa dịch vụ, ông có bình luận gì?
Đến hết tháng 10/2010, CPI đã tăng 7,6% so với cuối năm 2009, tăng 9,7% so cùng kỳ và bình quân 10 tháng cũng đã tăng 8,75%. Rõ ràng, việc kiềm chế CPI cả năm 2010 ở mức một con số đang trở thành gánh nặng quá lớn cho hai tháng còn lại của năm.
Nếu chúng ta có những biện pháp mạnh đối phó với lạm phát thì CPI cả năm vẫn có thể giữ ở một con số, theo đó CPI hai tháng cuối năm tăng khoảng 2%. Ngược lại, CPI hai tháng cuối năm có thể tăng tới 4% và cả năm sẽ tới khoảng 11-12%.
Câu chuyện CPI năm nay lại cho thấy khả năng dự báo và kiểm soát lạm phát của chúng ta kém?
Dự báo lạm phát của chúng ta còn nặng về cảm tính. Tính chính xác của dự báo, kể cả dự báo ngắn hạn bị hạn chế nhiều, vì chưa được xây dựng dựa trên những căn cứ chắc chắn và khoa học.
Hơn nữa, con số dự báo lại mang tính chất con số kế hoạch hay mục tiêu song lại thiếu những công cụ đi kèm để thực hiện kế hoạch hay mục tiêu đó. Chúng ta vẫn chưa có hệ thống các công cụ kiểm soát lạm phát một cách hiệu quả trong bối cảnh kinh tế thị trường có độ mở lớn như Việt Nam hiện nay.
Ngân hàng Nhà nước vừa quyết định nâng các loại lãi suất chủ chốt, đây được kỳ vọng là một giải pháp tích cực để giảm nhiệt lạm phát, ý kiến của ông là gì?
Chính sách tiền tệ là một công cụ thường được sử dụng để kiểm soát lạm phát. Việc nâng lãi suất là để hạn chế tín dụng thông qua đó để hạn chế lạm phát. Biện pháp này cũng đã được sử dụng để kiềm chế lạm phát trong năm 2008 khi lạm phát ở mức cao. Tuy nhiên, cách thức sử dụng công cụ này còn tùy thuộc vào diễn biến lạm phát trong từng giai đoạn khác nhau và cần áp dụng đồng bộ với các biện pháp khác mới có tác dụng.
Chỉ số giá tăng cao có một phần nguyên nhân từ yếu tố tâm lý và niềm tin vào tiền đồng?
Yếu tố tâm lý luôn luôn là vấn đề của kinh tế tài chính - tiền tệ Việt Nam. Tuy nhiên, yếu tố tâm lý chỉ phát huy tác động mạnh trong môi trường thông tin thiếu công khai, minh bạch. Bên cạnh đó, hiệu ứng thực tế của các quyết sách của Chính phủ là cơ sở để hạn chế tác động tâm lý trong nền kinh tế thị trường.
Niềm tin vận động theo cơ chế tích lũy lâu dài, nhưng mất niềm tin lại theo cơ chế sụt giảm ngay lập tức.
Biện pháp được nhắc nhiều đến kiềm chế lạm phát những tháng cuối năm là bình ổn giá, đây có phải là giải pháp hiệu quả?
Bản chất của bình ổn giá là chính sách vi mô chứ không phải vĩ mô, mặc dù công cụ bình ổn giá có thể là cả vi mô và vĩ mô, hơn nữa, bình ổn giá có tác động tốt đến kiềm chế lạm phát.
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào bình ổn giá để kiềm chế lạm phát, chắc chắn không có hiệu quả, vì sự can thiệp mang tính hành chính vào thị trường trong khi nguồn lực can thiệp hạn chế sẽ không cho ra những kết quả mong đợi, thậm chí vừa làm méo mó thị trường, vừa làm lãng phí nguồn lực.
Hơn nữa, hiệu quả của các công cụ bình ổn giá còn bị hạn chế bởi chúng ta đang tiếp cận nó như một phạm trù kinh tế vĩ mô, trong khi hiệu quả bình ổn giá lại được quyết định bằng các công cụ vi mô.
Đã nhiều biện pháp và công cụ đựơc áp dụng, nhưng CPI vẫn “gan lì” ở mức cao. Một chiến lược dài hạn đáng ra cần được thực thi từ những năm trước là gì, theo ông?
Về dài hạn, kiểm soát lạm phát gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, thay đổi mô hình tăng trưởng, theo đó cần điều chỉnh tất cả các chính sách kinh tế vĩ mô một cách đồng bộ.
Giả định các chính sách kinh tế vĩ mô khác không thay đổi thì để góp phần kiểm soát lạm phát, chính sách tài khóa cần được hoạch định theo hướng giảm tỷ lệ thu - chi ngân sách Nhà nước, giảm thâm hụt và tiến tới cân bằng, thậm chí ngân sách Nhà nước sẽ thặng dư nếu thu ngân sách đạt kết quả tốt hơn dự toán.
Lạm phát là vấn đề của kinh tế vĩ mô, nên vai trò quan trọng hàng đầu trong kiểm soát lạm phát là các chính sách tài khóa và tiền tệ, có thể là cả chính sách đầu tư và thương mại nữa, trong điều kiện riêng có của Việt Nam.
TP.Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh giám sát các mối nguy ngay trong quá trình lưu thông, kinh doanh thực phẩm trên thị trường, thay vì chờ phát hiện vi phạm hay xử lý khi xảy ra ngộ độc thực phẩm. Từ lấy mẫu kiểm nghiệm, cảnh báo sớm đến truy xuất nguồn gốc sản phẩm, Thành phố hướng tới xây dựng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm chủ động hơn, kiểm soát rủi ro ngay từ các mắt xích của chuỗi cung ứng.
Trước những diễn biến của thị trường thế giới, giá xăng dầu trong nước kỳ điều hành ngày 25/6 được điều chỉnh giảm mạnh. Cụ thể, xăng E5RON92 giảm 767 đồng/lít, xăng E10RON95-III giảm 837 đồng/lít. Tương tự, các mặt hàng dầu cũng có mức giảm từ 1.650 đồng - 1.668 đồng/lít…
TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu đưa khu vực dịch vụ đóng góp 60 - 65% GRDP vào năm 2030 và nâng lên 70 - 75% vào năm 2040. Đồng thời, triển khai mô hình liên kết “5+1”, lấy Trung tâm Tài chính quốc tế làm hạt nhân để xây dựng hệ sinh thái dịch vụ hiện đại, hướng tới vị thế trung tâm dịch vụ hàng đầu Đông Nam Á…
Khối hộ tiêu thụ dân cư vẫn còn nhiều bất cập về nhận thức. Họ nghĩ: "Tôi có tiền, tôi trả được thì tại sao không được dùng nhiều?", dẫn đến việc lãng phí vô tội vạ mà không hiểu rằng khi tiêu thụ vượt ngưỡng, hệ thống phải huy động các nguồn điện rất đắt đỏ, gây áp lực chi phí đầu tư khổng lồ cho xã hội…
Trong kỳ điều hành ngày 18/6, liên Bộ Công Thương - Tài chính lần đầu tiên công bố giá cơ sở cho mặt hàng xăng sinh học E10RON95-III, thay thế hoàn toàn xăng khoáng RON95-III truyền thống. Cùng với đó, giá các mặt hàng xăng dầu đồng loạt giảm mạnh nhờ tác động kép từ giá thế giới và các chính sách thuế ưu đãi…
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Hiện nhiều cấu phần trong một thiết bị bay không người lái UAV đã được doanh nghiệp Việt Nam tự chủ sản xuất. Tuy nhiên, động lực để phát triển UAV nói riêng và kinh tế tầm thấp nói chung còn đang thiếu. Mở thế chế để quản lý thiết bị bay không người lái, đưa UAV vào từng ngành kinh tế trọng điểm là điều kiện tiên quyết phát triển kinh tế tầm thấp trong thời gian tới.