
Báo cáo Kinh tế Thường niên Đồng bằng sông Cửu Long (AMDER) năm 2024 do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright (FSPPM) cùng nhóm chuyên gia thực hiện vừa được công bố, cho thấy năm 2024, GRDP của vùng Đồng bằng sông Cửu Long tăng trưởng 7,3%, cao hơn mức trung bình cả nước (7,1%), và đánh dấu năm thứ ba liên tiếp vượt tốc độ tăng trưởng chung.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của khu vực này năm 2024 đạt 12,2%, cao hơn trung bình cả nước và là mức cao nhất trong thập niên trở lại đây. Bên cạnh đó, thương mại tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ sau đại dịch, với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2024 tăng 14,4%, cao hơn mức trung bình cả nước (9%).
Dù đạt nhiều kết quả khả quan, song nền tảng kinh tế của Đồng bằng sông Cửu Long vẫn chưa thực sự vững chắc. Cơ cấu kinh tế hầu như không thay đổi. Các nguồn đầu tư công, tư nhân và FDI vào vùng đều thấp. Đầu tư công vào vùng này chỉ cao hơn Tây Nguyên, ngang bằng Trung du và miền núi phía Bắc, nhưng bị Bắc hải miền Trung bỏ xa với mức đầu tư công cao gấp đôi.
Tỷ trọng vốn đầu tư tư nhân của Đồng bằng sông Cửu Long so với cả nước giảm từ 14,9% (2014) xuống 12,4% (2023). Trong giai đoạn 2014-2023, vốn đầu tư tư nhân tại vùng tăng 7,7 lần (bình quân 6,2%/ năm), nhưng vẫn thấp hơn tốc độ tăng bình quân cả nước là 2,1 lần (8,4%/năm). Đồng bằng sông Cửu Long cũng là vùng có tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư tư nhân thấp nhất cả nước trong 10 năm qua, cho dù đây là động lực tăng trưởng quan trọng nhất.
Đối với lĩnh vực chế biến, chế tạo, vốn đầu tư tư nhân cũng chỉ chiếm 9% của cả nước, giảm từ 12,9% vào năm 2014, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sử dụng nhiều lao động giá rẻ và nguyên liệu thô như chế biến thủy sản, xay xát lúa gạo, chế biến trái cây, may mặc và da giày, trong khi các ngành công nghệ cao như điện tử, cơ khí chế tạo hay công nghiệp nặng hầu như vắng mặt.
Bên cạnh đó, đầu tư FDI vào Đồng bằng sông Cửu Long cũng ở mức thấp. Năm 2024, khu vực này thu hút được 142 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký mới là 759 triệu USD, chiếm chưa tới 2% tổng vốn FDI mới của cả nước, và thấp hơn đáng kể so với các vùng khác. Vốn FDI chỉ chiếm 6,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội của vùng, thấp hơn mức 16,3% của cả nước.
Báo cáo nhấn mạnh rằng thiếu hụt vốn đầu tư đã trở thành một trong những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến “vòng xoáy đi xuống” của kinh tế Đồng bằng sông Cửu Long trong nhiều năm qua. Dù là vùng sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu chủ lực, đóng góp hơn 50% vào thặng dư thương mại của Việt Nam, song Đồng bằng sông Cửu Long lại có tỷ lệ vốn đầu tư rất thấp. Cụ thể, tính theo bình quân đầu người, so sánh trong 6 vùng kinh tế - xã hội của Việt Nam, Đồng bằng sông Cửu Long đứng thứ 3 về vốn ODA, thứ 4 về đầu tư công, thứ 5 về FDI, và thứ 6 về đầu tư tư nhân trong nước. Hệ quả là cơ sở hạ tầng yếu kém, cơ hội việc làm suy giảm, năng suất lao động trì trệ và sức cạnh tranh suy yếu.
Trong giai đoạn 2021 – 2023, tổng vốn đầu tư toàn xã hội ở Đồng bằng sông Cửu Long chỉ chiếm 11,2% của cả nước, giảm từ mức 13,2% trong giai đoạn 2011 – 2016, thấp hơn tỷ lệ đóng góp của khu vực này vào GDP cả nước.
Khảo sát 153 doanh nghiệp tư nhân tại Đồng bằng sông Cửu Long vào quý 3/2024, cho thấy chỉ 56,9% doanh nghiệp có kế hoạch đầu tư vào vùng trong 5 năm tới, 32% không có kế hoạch mở rộng, và 11,1% có ý định đầu tư vào các vùng khác, chủ yếu là Đông Nam Bộ. Điều này phản ánh những thách thức trong việc thu hút và giữ chân doanh nghiệp.
Mặc dù các ngành công nghệ và khởi nghiệp có tỷ lệ đầu tư cao, nhưng mức độ quan tâm từ các ngành khác không đồng đều, đặc biệt là ngành nông nghiệp và các ngành sản xuất truyền thống. Phần lớn doanh nghiệp có kế hoạch đầu tư tại vùng chỉ dự định mở rộng với quy mô nhỏ (dưới 25%), trong khi chỉ 12% có kế hoạch mở rộng trên 50% so với quy mô hiện tại. Chỉ 12,6% doanh nghiệp có ý định triển khai dự án mới. Bên cạnh đó, 33% doanh nghiệp có kế hoạch đầu tư ưu tiên R&D (nghiên cứu và phát triển), phản ánh nhu cầu đổi mới trước áp lực cạnh tranh ngày càng tăng.
Báo cáo chỉ ra 4 nhóm rào cản chính đang kìm hãm dòng vốn đầu tư vào Đồng bằng sông Cửu Long.
Một là, hệ thống hạ tầng giao thông và logistics chưa phát triển đồng bộ. Đường bộ vẫn là phương thức vận tải chính, nhưng chưa có hệ thống đường cao tốc kết nối nội vùng, cũng như với vùng Đông Nam Bộ một cách nhanh chóng và hiệu quả. Hệ quả tất yếu là làm tăng chi phí logistics và giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong vùng. Ngoài ra, thiếu cơ sở hạ tầng công nghiệp cũng là một trở ngại lớn, khiến khu vực khó thu hút doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực chế biến nông sản, công nghiệp hỗ trợ và năng lượng tái tạo. Thiếu kết nối với các trung tâm kinh tế lớn như TP.HCM.
Hai là, thiếu hụt lao động có tay nghề. Dù lực lượng lao động của Đồng bằng sông Cửu Long tương đối dồi dào, nhưng trình độ tay nghề chưa đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghiệp hiện đại như chế biến, chế tạo, công nghệ thông tin và logistics. Hơn nữa, việc thiếu các trung tâm đào tạo nghề chất lượng cao khiến lao động địa phương gặp khó khăn trong việc nâng cao tay nghề và tiếp cận các cơ hội việc làm tốt hơn. Ngoài ra, làn sóng di cư liên tục với quy mô lớn khiến các nhà đầu tư to ngại về tình trạng khan hiếm lao động và chi phí lao động tăng.
Ba là, rủi ro từ biến đổi khí hậu. Xâm nhập mặn, sụt lún đất và nước biển dâng đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng, làm giảm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.
Bốn là, mặc dù Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư vào Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng vẫn chưa đủ mạnh để thúc đẩy đầu tư vào các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Thủ tục hành chính còn rườm rà, thiếu sự phối hợp giữa các cấp chính quyền và chưa có các chính sách dài han để đảm bảo tính ổn định cho nhà đầu tư. Một số chính sách còn chồng chéo hoặc chưa theo kịp thực tiễn, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình tiếp cận và triển khai dự án.
Trong số các rào cản, doanh nghiệp quan ngại nhiều nhất về hạ tầng giao thông, thị trường tiêu thụ và chi phí xây dựng. Điều này cho thấy cần ưu tiên phát triển hạ tầng giao thông để thúc đẩy đầu tư tư nhân, đồng thời cải thiện môi trường kinh doanh qua cải cách hành chính và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận đất đai, tín dụng. Các giải pháp này sẽ giúp tăng tính hấp dẫn của Đồng bằng sông Cửu Long đối với các nhà đầu tư trong nước, đồng thời giảm áp lực di chuyển vốn đầu tư sang các vùng kinh tế phát triển hơn.
Để đảo ngược xu hướng suy giảm kinh tế, báo cáo nhấn mạnh đến việc Đồng bằng sông Cửu Long cần có một chiến lược huy động nguồn lực đầu tư toàn diện và dài hạn, với sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ, chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp. Chỉ khi thu hút được dòng vốn đầu tư bền vững, khu vực này mới có thể tận dụng được tiềm năng kinh tế to lớn của mình, nâng cao năng suất lao động và đảm bảo sinh kế bền vững cho 18 triệu người dân.
Báo cáo đề xuất 4 nhóm giải pháp then chốt nhằm tháo gỡ nút thắt đầu tư và thúc đẩy phát triển bền vững cho Đồng bằng sông Cửu Long.
Thứ nhất, đưa chuyển đổi số thành trọng tâm của chiến lược đầu tư và phát triển. Ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng viễn thông và internet tốc độ cao làm tiền đề cho chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Điều này giúp tối ưu hóa nguồn lực, nâng cao năng suất của cả khu vực công và tư trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư eo hẹp, đồng thời tăng sức hấp dẫn của Đồng bằng sông Cửu Long đối với các nhà đầu tư thâm dụng công nghệ.
Thứ hai, tái cơ cấu phân bổ đầu tư công theo hướng ưu tiên hạ tầng giao thông và viễn thông, logistics và chuyển đổi số. Đồng thời, đẩy mạnh giải ngân các dự án trọng điểm như cao tốc Cần Thơ – Cà Mau, Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng và hệ thống logistics nông sản.
Thứ ba, tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư tư nhân và FDI. Cải thiện thủ tục hành chính, minh bạch hóa quy trình cấp phép và cải thiện khả năng tiếp cận đất đai cho các nhà đầu tư chiến lược trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến sâu, và năng lượng tái tạo.
Thứ tư, phát triển mô hình hợp tác công – tư (PPP). Huy động vốn tư nhân tham gia vào các dự án hạ tầng quan trọng, đặc biệt là giao thông và logistics. Đồng thời, xây dựng mô hình nông thôn sinh thái, đô thị xanh để nâng cao chất lượng sống nhằm thu hút nhân tài.
Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Với khoảng 44.000 ha cà phê Arabica, Sơn La đang hướng tới phát triển ngành hàng theo hướng sinh thái, nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị xuất khẩu. Trước thách thức của biến đổi khí hậu và các yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, tỉnh xác định đẩy mạnh canh tác bền vững, chuyển đổi số, chế biến sâu và liên kết chuỗi giá trị, hướng tới mục tiêu đạt 100.000 tấn cà phê nhân vào năm 2030...
Vòng bán kết Cuộc thi Tài năng trẻ Logistics Việt Nam 2026 với sự góp mặt của 54 đội từ các trường đại học, cao đẳng trên cả nước, hứa hẹn sẽ mang đến những màn tranh tài hấp dẫn, khẳng định sức lan tỏa của sân chơi học thuật hàng đầu ngành logistics...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.