Khám chữa bệnh quốc tế: Mảnh ghép còn thiếu trong chiến lược tăng trưởng hai con số

Khám chữa bệnh quốc tế: Mảnh ghép còn thiếu trong chiến lược tăng trưởng hai con số

Ở góc nhìn đó, dịch vụ y tế chất lượng cao dành cho người nước ngoài đang nổi lên như một lĩnh vực có thể tạo nên một "ngành xuất khẩu tại chỗ" với quy mô hàng tỷ USD, nhưng vẫn chưa được nhìn nhận đúng tầm trong chiến lược phát triển quốc gia.

Nếu du lịch đưa khách quốc tế đến để chi tiêu cho lưu trú, ăn uống và tham quan thì y tế quốc tế còn tạo ra giá trị lớn hơn nhiều. Một bệnh nhân nước ngoài không chỉ chi trả cho ca điều trị mà còn kéo theo chi tiêu của người thân, nhu cầu lưu trú dài ngày, vận chuyển, nghỉ dưỡng, mua sắm và nhiều dịch vụ đi kèm. Đây chính là mô hình mà nhiều quốc gia châu Á đã biến thành một ngành kinh tế mũi nhọn.

MỘT THỊ TRƯỜNG HÀNG TRĂM TỶ USD ĐANG DỊCH CHUYỂN

Theo nhiều tổ chức nghiên cứu quốc tế, thị trường Medical Tourism (du lịch kết hợp khám chữa bệnh) toàn cầu đang tăng trưởng với tốc độ hai con số mỗi năm. Người bệnh ngày nay không còn chỉ lựa chọn bệnh viện gần nơi cư trú. Họ sẵn sàng bay hàng nghìn kilomet để được điều trị tốt hơn, nhanh hơn hoặc với chi phí hợp lý hơn.

Ngày 26/06/2026 vừa qua, Diễn đàn kinh tế Du lịch FIT với chuyên đề “Từ Travel đến Trawell: Xu hướng mới của khách du lịch FIT Quốc tế. Diễn đàn đã cùng khẳng định, Việt Nam sở hữu lợi thế rất riêng: Khí hậu đa dạng- Chi phí sinh hoạt hợp lý- Khoảng cách địa lý thuận lợi với Đông Bắc Á, ASEAN và Australia. Đây đều là những yếu tố rất phù hợp để phát triển mô hình Medical Wellness, xu hướng đang phát triển mạnh trên thế giới. Phát biểu trong Diễn đàn, Cục trưởng Cục Du lịch Việt Nam nhấn mạnh:

"Ngành du lịch thế giới đang chứng kiến sự thay đổi mang tính cấu trúc. Các tour du lịch trọn gói đang dần nhường chỗ cho thế hệ khách du lịch mới – những người tìm kiếm trải nghiệm cá nhân hóa, sự linh hoạt và chiều sâu văn hóa. Phân khúc du lịch tự túc (FIT) chính là hiện thân rõ nét nhất của xu hướng này, trở thành một trong những phân khúc tăng trưởng nhanh nhất và có giá trị cao nhất trong du lịch quốc tế.

Tại Việt Nam, kết quả điều tra năm 2019 cho thấy:

- Số lượng khách quốc tế đi theo tour của các doanh nghiệp lữ hành chiếm khoảng 54%.

- Số lượng khách du lịch quốc tế tự thiết kế và đặt dịch vụ từng phần chiếm khoảng 46%.

Đặc biệt từ sau dịch COVID-19, lượng khách du lịch tự túc đến Việt Nam ngày càng gia tăng. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ các chính sách đột phá:

- Mở rộng diện miễn thị thực đơn phương cho công dân của 24 quốc gia với thời gian tạm trú lên đến 45 ngày.

- Miễn thị thực song phương cho công dân mang hộ chiếu ngoại giao, công vụ của 93 nước/vùng lãnh thổ (thời gian lưu trú không quá 90 ngày).

- Miễn thị thực cho toàn bộ người nước ngoài vào Phú Quốc du lịch trong thời gian 30 ngày.

Mặt khác, sự phát triển của khoa học công nghệ, các nền tảng du lịch trực tuyến và trí tuệ nhân tạo (AI) đã giúp việc tìm hiểu thông tin, đặt dịch vụ xuyên biên giới trở nên dễ dàng hơn. Du lịch tự túc không chỉ là lựa chọn thay thế mà đã trở thành xu hướng chủ đạo, thay đổi hành vi tiêu dùng và phương thức tương tác giữa du khách với điểm đến.

Khách du lịch FIT mang lại giá trị gia tăng vượt trội nhờ khả năng chi tiêu cao hơn cho các trải nghiệm sâu sắc, giúp giảm phụ thuộc vào các thị trường đơn lẻ, hướng tới phát triển bền vững và tăng khả năng chống chịu trước biến động. Mỗi du khách FIT hài lòng sẽ là một đại sứ du lịch chân thực, lan tỏa hình ảnh Việt Nam trên các nền tảng số toàn cầu".

CẦN MỘT CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA THAY VÌ NỖ LỰC RIÊNG LẺ

Nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam thiếu bệnh viện đạt chuẩn quốc tế. Nhưng thực tế, đây chưa phải rào cản lớn nhất. Điểm nghẽn thực sự nằm ở chuỗi trải nghiệm của bệnh nhân quốc tế.

Hành trình của một người nước ngoài bắt đầu từ khi họ tìm kiếm thông tin trên internet. Sau đó là xin visa. Đặt lịch khám. Đặt vé máy bay. Đặt khách sạn. Phiên dịch. Thanh toán. Bảo hiểm. Theo dõi điều trị từ xa. Chăm sóc sau điều trị. Nếu chỉ một mắt xích hoạt động thiếu chuyên nghiệp, toàn bộ trải nghiệm sẽ bị ảnh hưởng.

Trong khi nhiều quốc gia đã xây dựng cơ chế "One Stop Service", bệnh nhân chỉ cần đăng ký một lần để toàn bộ quy trình được kết nối tự động, thì ở Việt Nam nhiều khâu vẫn còn vận hành rời rạc. Điều đó làm giảm đáng kể sức cạnh tranh.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, điều Việt Nam cần không chỉ là xây thêm bệnh viện. Điều cần hơn là một Chiến lược quốc gia về phát triển y tế quốc tế với sự tham gia của nhiều bộ, ngành. Trong đó, Bộ Y tế đóng vai trò dẫn dắt về chuyên môn. Ngành du lịch phát triển các sản phẩm nghỉ dưỡng kết hợp điều trị. Ngành xuất nhập cảnh tạo điều kiện thuận lợi cho visa y tế. Ngành hàng không mở rộng các đường bay kết nối. Các địa phương xây dựng các cụm dịch vụ y tế - nghỉ dưỡng.

Song song với đó là đầu tư mạnh vào chuyển đổi số, hồ sơ bệnh án điện tử, tư vấn từ xa, thanh toán quốc tế và liên thông với các hãng bảo hiểm nước ngoài. Chỉ khi toàn bộ hệ sinh thái cùng vận hành, Việt Nam mới có thể cạnh tranh với các trung tâm y tế hàng đầu trong khu vực.

Trong hành trình hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, có lẽ đã đến lúc y tế cần được nhìn nhận không chỉ là một trụ cột của an sinh xã hội, mà còn là một ngành kinh tế chiến lược. Bởi khi sức khỏe trở thành một "sản phẩm dịch vụ" có giá trị toàn cầu, năng lực chữa lành của một quốc gia cũng chính là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.