Được đánh giá là có nhiều tiềm năng, dư địa để phát triển mang tầm quốc gia và quốc tế, song ngành logistics vùng Đông Nam Bộ vẫn còn nhiều điểm nghẽn trên cả phương thức vận tải đường bộ, hàng không, đường biển, đường thủy nội địa và đường sắt, đòi hỏi cần có các giải pháp “khơi thông”...
Ảnh minh họa.
Tại diễn đàn “Liên kết phát triển logistics - Động lực tăng trưởng kinh tế vùng Đông Nam Bộ” mới đây, ông Phạm Tấn Công, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đánh giá Đông Nam Bộ là vùng rất quan trọng với phát triển kinh tế đất nước, đóng góp rất lớn với 32% GDP và 45% ngân sách cả nước.
Tính toán sơ bộ cho thấy hoạt động thương mại của vùng diễn ra sôi động, đóng góp khoảng 45% tổng khối lượng hàng hóa và hơn 60% khối lượng hàng container thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam.
VẪN CÒN NHỮNG ĐIỂM NGHẼN
Hiện tại vùng Đông Nam Bộ có khoảng 14.800 doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics, chiếm gần 50% tổng số doanh nghiệp logistics cả nước. Đây là một tỷ trọng rất cao. Trong đó, tập trung chủ yếu tại TP.HCM với hơn 11.000 doanh nghiệp; Bình Dương gần 1.700 doanh nghiệp và Đồng Nai hơn 1.200 doanh nghiệp.
Theo ông Công, hiện nay các doanh nghiệp trong ngành logistics đã có sự đầu tư khá tốt về hạ tầng và công nghệ. Tuy nhiên, thời gian qua việc phát triển của logistics vùng Đông Nam Bộ vẫn có những điểm nghẽn, như kết cấu hạ tầng về giao thông nhất là giao thông nội vùng, giao thông liên vùng chưa phát triển đồng bộ. Đặc biệt chưa có các trung tâm logistics lớn, chi phí logicstics cao, liên kết nội vùng, trong vùng, liên kết doanh nghiệp sản xuất vẫn chưa chặt chẽ.
Bà Rịa - Vũng Tàu là một trong ba cực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ, tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Thọ, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, điểm nghẽn của tỉnh hiện nay là các dịch vụ logistics vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của một trung tâm quan trọng của khu vực Đông Nam Bộ về vận tải biển và cả vận tải đa phương thức. Hệ thống dịch vụ kho bãi, trung tâm logistics sau cảng chưa theo kịp xu thế. Thiếu hụt các dịch vụ logistics như mạng lưới dịch vụ kho hàng hóa tổng hợp, ICD, kho lạnh, dịch vụ về container, đóng gói hàng theo yêu cầu…
Theo ông Nguyễn Đình Việt, Phó Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam (Bộ Giao thông Vận tải), Đông Nam Bộ là khu vực luôn được Nhà nước đặc biệt quan tâm phát triển hạ tầng giao thông vận tải, trong đó có hạ tầng cảng biển nhằm tạo động lực để Đông Nam Bộ phát huy thế mạnh, đảm bảo vai trò đầu tàu về kinh tế và hội nhập.
Mặc dù vậy, vẫn còn tồn tại một số hạn chế, như hạ tầng giao thông kết nối cảng chậm được triển khai, tuyến Quốc lộ 51 hạn chế về năng lực, chưa đáp ứng yêu cầu tiếp, rút hàng đến cảng nên tình trạng ùn tắc giao thông thường xuyên xảy ra. Ngoài ra, thiếu hạ tầng logistics để hỗ trợ khai thác cảng biển. Điều này làm cho giao thông thêm phức tạp, tổ chức vận tải gặp nhiều khó khăn.
Ở góc độ khác, ông Phạm Hoài Chung, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Phát triển giao thông vận tải (Bộ Giao thông Vận tải), cho rằng vận tải đường sắt trong vùng đang là một điểm yếu của vùng. Theo kinh nghiệm thế giới, việc gom hàng đường sắt cho đường biển rất quan trọng, thường chiếm 80% cho gom hàng biển. Nhưng vận tải đường sắt quốc gia hiện nay chỉ mới có một tuyến Bắc – Nam, chạy chung vận chuyển hàng hóa và hành khách.
Các tuyến đường sắt chuyên dùng kết nối đến cảng biển mới dừng ở mức nghiên cứu. Ngoài ra, chi phí xếp dỡ cũng là vấn đề hạn chế, cần nghiên cứu xem xét thay đổi cho phù hợp hơn để hấp dẫn các nhà đầu tư cảng biển về đầu tư, thu hút các “đại bàng” cảng biển về làm tổ.
TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT NGÀNH, VÙNG
Nhằm thúc đẩy phát triển liên kết logistics vùng, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), đề xuất cần hoàn thiện chính sách hạ tầng. Trong đó nhận thức đúng đắn về vai trò logistics là ngành trọng điểm trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương để xác định tầm nhìn rõ ràng. Từ đó đầu tư hạ tầng kết nối tạo hệ sinh thái hỗ trợ vận chuyển tốt hơn, tăng tính liên kết đến các khu vực xung quanh như Tây Nam Bộ, Tây Nguyên và các quốc gia lân cận để phát huy thế mạnh.
Bên cạnh đó, các tỉnh cần có chính sách thông thoáng, cải cách thủ tục hành chính tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp logistics phát triển.
Để tận dụng tốt lợi thế cảng nước sâu Cái Mép -Thị Vải, giúp tăng quy mô kim ngạch xuất nhập khẩu và mở rộng ngành hàng, ông Nguyễn Xuân Kỳ, Tổng giám đốc Cảng quốc tế Cái Mép (CMIT), kiến nghị cần đảm bảo các tuyến đường giao thông kết nối vùng, đồng thời sớm hình thành khu thương mại tự do (FTZ) tại Cái Mép – Thị Vải.
Bên cạnh đó, cần điều chỉnh Thông tư số 54 của Bộ Giao thông Vận tải về giá xếp dỡ tại Thị Vải - Cái Mép. Bộ Tài Chính cũng cần sớm ban hành Thông tư quy định giám sát hải quan đối với hàng hóa vận chuyển giữa các cảng Cái Mép.
Nhấn mạnh tới nhóm giải pháp liên kết ngành và liên kết vùng, ông Bùi Thiên Thu, Cục trưởng Cục Đường thủy nội địa (Bộ Giao thông Vận tải), cho rằng cần tăng cường sự phối hợp giữa bộ, ngành ở Trung ương như Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính… trong quá trình xây dựng, điều chỉnh chính sách liên quan đến phát triển logistics, đặc biệt đối với các nội dung như tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch, thuế, hải quan…
Đồng thời, cần tăng cường hơn nữa liên kết giữa các chính sách của chính quyền địa phương với các bộ, ngành. Bởi, nếu sự phối hợp giữa bộ, ngành và các địa phương không tốt sẽ có những chính sách ảnh hưởng đến mục tiêu của ngành logistics.
“Với liên kết vùng, chính sách quản lý nhà nước của các địa phương trong khu vực cần có sự đồng bộ vì lợi ích và sự phát triển chung của toàn vùng”, ông Thu đề nghị, đồng thời ủng hộ việc thành lập Hiệp hội Doanh nghiệp logistics Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đây sẽ là đầu mối của các doanh nghiệp dịch vụ logistics trên địa bàn để phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng, sửa đổi quy hoạch, chính sách liên quan đến dịch vụ vận tải, phát triển, cũng như phản ánh đến các cơ quan quản lý nhà nước về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp hội viên.
Để đạt mục tiêu có cảng trung chuyển quốc tế, cần có các khu thương mại tự do để trợ lực, tạo sức thu hút cho hàng hóa đến cảng, trong đó liên kết nội vùng, liên vùng có vai trò đặc biệt quan trọng.
PHÁT TRIỂN KHU THƯƠNG MẠI TỰ DO GẮN VỚI CẢNG BIỂN
TS. Trần Thị Hồng Minh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), nhấn mạnh rằng cần có giải pháp tăng cường thể chế liên kết vùng thông qua việc hình thành và xây dựng khu thương mại tự do gắn với cảng biển. Đây là một trong những lợi thế của các địa phương và của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để trở thành một đột phá chiến lược phát triển cảng biển và kinh tế...
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 38-2023 phát hành ngày 18-09-2023. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
[Bài 4]: Phát triển hạ tầng – mở ra không gian phát triển
Với quyết tâm lấy hạ tầng làm khâu đột phá, Thanh Hóa đã và đang tập trung nguồn lực cho hạ tầng biển, từ cảng nước sâu, du lịch ven biển đến giao thông kết nối liên vùng. Những công trình quy mô lớn không chỉ thay đổi diện mạo địa phương mà còn mở ra không gian phát triển mới, đưa xứ Thanh tiến gần hơn khát vọng trở thành cực tăng trưởng mạnh của khu vực phía Bắc.
[Bài 3] Cần cú hích mới cho công nghiệp biển
Với vị trí cửa ngõ ra biển và vai trò “đầu tàu” công nghiệp, Khu kinh tế Nghi Sơn đang được kỳ vọng sẽ mở ra bước chuyển quan trọng để Thanh Hóa vươn lên thành trung tâm kinh tế biển của cả nước. Tuy nhiên, để công nghiệp biển thật sự năng động, nơi đây cần thêm những cú hích mạnh mẽ về cơ chế, hạ tầng và nguồn lực.
Tái thiết kế hệ sinh thái khu công nghiệp Hà Nội
Trong bối cảnh mới, Hà Nội đang đứng trước cuộc đại cải tổ: Chuyển đổi các khu công nghiệp hiện hữu sang mô hình sinh thái, công nghệ cao và đô thị dịch vụ. Đây không chỉ là việc "xanh hóa" cảnh quan, mà là một cuộc cách mạng về tư duy quản trị, dữ liệu và công nghệ để định vị lại vị thế của Thủ đô trong chuỗi giá trị toàn cầu…
[Bài 2]: “Đánh thức” du lịch biển Thanh Hóa
Với lợi thế bờ biển dài, nhiều bãi tắm đẹp và hệ sinh thái phong phú, Thanh Hóa đang đưa du lịch biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Tuy nhiên, bên cạnh những bước phát triển mạnh mẽ về hạ tầng, dịch vụ và lượng khách, ngành du lịch biển xứ Thanh vẫn đối diện không ít thách thức, đòi hỏi địa phương phải tìm hướng đi bền vững và mang tính cạnh tranh cao hơn.
Gia hạn thuế nhập khẩu xăng dầu 0% đến cuối tháng 6/2026
Chính sách giảm thuế nhập khẩu một số mặt hàng xăng dầu về 0% được kéo dài đến 30/6/2026, đồng thời đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực này, nhằm góp phần ổn định nguồn cung, mặt bằng giá...
Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hoá tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).
Tổng số đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI trong cả nước là 182. Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố được ấn định...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.
Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán),
có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu).
Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: