09:27 23/03/2009

“Không chấp nhận cho vay đảo nợ”

Nguyễn Hoài

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nói về việc nhiều doanh nghiệp đề nghị được “vay mới, trả cũ”, mà thực chất là đảo nợ

"Chưa bao giờ có một chính sách về tiền tệ mà đích thân Thống đốc vừa đi kiểm tra, vừa tác nghiệp tại 11 tỉnh, thành trong thời gian rất ngắn như bây giờ".
"Chưa bao giờ có một chính sách về tiền tệ mà đích thân Thống đốc vừa đi kiểm tra, vừa tác nghiệp tại 11 tỉnh, thành trong thời gian rất ngắn như bây giờ".
Mặc dù Luật Tín dụng không cho phép nhưng hiện tại, các doanh nghiệp vẫn mong muốn được đảo nợ.

Ngày 20/3/2009, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu đã chính thức công bố quan điểm của Ngân hàng Nhà nước xung quanh vấn đề này.

"Luậtpháp nghiêm cấm triệt để hành vi đảo nợ"

Thưa Thống đốc, nhiều doanh nghiệpthuộc diện được hỗ trợ lãi suất cũng như như không thuộc diện này đềnghị được “vay mới, trả cũ” mà thực chất là đảo nợ, nhằm bớt gánh nặnglãi cao từ các khoản vay năm ngoái. Quan điểm của Thống đốc về vấn đềnày như thế nào?

Tại Thông tư 02/TT - NHNNhướng dẫn thực hiện Quyết định 131/CP, đã quy định rất rõ: ngân hàngthương mại phải thực hiện việc hỗ trợ lãi suất theo đúng quy định củaThủ tướng Chính phủ và thông tư này; đảm bảo công khai, rõ ràng số tiềnhỗ trợ lãi suất với khách hàng vay; từ chối các yêu cầu hỗ trợ lãi suấtkhông đúng quy định của pháp luật.

Đồng thời, lãnh đạo cácngân hàng thương mại chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với cáctrường hợp hỗ trợ lãi suất không đúng quy định; nếu vi phạm, sẽ bị xửlý nghiêm khắc.

Tôi nhắc lại, cho vay doanh nghiệp tại một ngânhàng để trả nợ cho chính ngân hàng đó hoặc trả nợ cho một ngân hàngkhác, được coi là hành vi đảo nợ.

Còn trả nợ trước hạn hoặc đến hạn trả nợ, khách hàng thanh toán nợ cũ, vay nợ mới là chuyện bình thường. Muốnvay lại, phải tuân thủ nghiêm ngặt Quy chế tín dụng 1267 với điều kiệncó phương án sản xuất khả thi.

Vừa rồi, tôi có nghe nói về vấn đề đảonợ, nhưng làm sao có thể đảo nợ nếu không có dự án sản xuất hiệu quả? Luậtpháp nghiêm cấm triệt để hành vi đảo nợ trong bất luận trường hợp nào.Bởi vì, một nền kinh tế chấp nhận cho vay đảo nợ, tức là chấp nhận cáchlàm ăn không mang lại hiệu quả, đồng thời gây thất thoát tài sản, chưakể gây rối ren trong công tác quản lý.

"Tư tưởngchung ở đây là hậu kiểm"

Theo ông, làm thế nào để kiểm soát chặt chẽ việc ngân hàng và doanh nghiệp thông đồng đảo nợ?

Quychế hoạt động của ngân hàng thương mại được quy định rất chặt chẽ. Hơnnữa, điểm 2b, điều 3 của Thông tư 02 cũng giao trách nhiệm cho chủ tịchhội đồng quản trị, tổng giám đốc phải thực hiện đúng thông tư và chịutrách nhiệm trước pháp luật nếu có hành vi sai trái.

Ngoài ra,Ngân hàng Nhà nước có bộ máy thanh tra để kiểm tra việc thực hiện. Chưabao giờ có một chính sách về tiền tệ mà đích thân Thống đốc vừa đi kiểmtra, vừa tác nghiệp tại 11 tỉnh, thành trong thời gian rất ngắn như bâygiờ.

Tuy nhiên, chính sách đang trong quá trình thực hiện thì cứđể cho ngân hàng và doanh nghiệp tự chủ thực hiện. Và nếu có hiện tượngbất thường thì thanh tra Ngân hàng Nhà nước tại địa phương phải báo cáothanh tra Ngân hàng Nhà nước trung ương ngay lập tức.

Tư tưởngchung ở đây là hậu kiểm và chúng tôi sẽ làm riết róng sau vài tháng nữavà cũng chỉ kiểm tra khi thấy cần thiết, chứ không làm tràn lan, gâyảnh hưởng không tốt về tâm lý khi thực hiện chính sách.

"Chẳng có chính sách nàocó thể bao cấp mãi được"

Nhiềudoanh nghiệp phàn nàn chính sách còn “bất công” khi chỉ hỗ trợ lãi suấtcho khoản vay đủ điều kiện phát sinh sau 1/2/2009 đến 31/12/2009, trongkhi vốn vay trước đó vẫn có tác dụng lưu chuyển hàng hóa, tạo thu nhậpcho người lao động trong năm nay. Ý kiến Thống đốc ra sao?

Không phải bất công. Chính sách bao giờ cũng có tính thời điểm, chứ làm gì có chính sách nào bao quát và đúng với mọi thời kỳ.

TrongQuyết định 131/CP đã nói rất rõ: chỉ hỗ trợ lãi suất đối với nhóm đốitượng được quy định trong quyết định này, giúp họ giảm bớt khó khăn chiphí vốn, duy trì việc làm và thu nhập cho người lao động, giải quyếttình trạng trì trệ trong sản xuất kinh doanh.

Còn việc đầu tưmới về công nghệ hay mở rộng dự án là chuyện khác. Một số ý kiến chorằng, cần kéo dài thời gian hỗ trợ lãi suất cho đối tượng này, đốitượng kia nhưng nếu hỏi họ lấy tiền ở đâu thì họ không biết.

Điềuquan trọng là phải đưa ra được những giải pháp như nâng thuế, cắt giảmtiền lương hay cắt giảm chi tiêu công thì lại không thấy tham mưu cụthể.

Hơn nữa, điều quan trọng là các doanh nghiệp phải tự mìnhchủ động xem xét tiết giảm chi phí đầu vào, cùng với các chính sách hỗtrợ của nhà nước để giảm giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnhtranh trên thị trường nội địa và xuất khẩu. Chứ chẳng có chính sách nàocó thể bao cấp mãi được.

"Hỗ trợ lãi suất chỉ tác động vào dư nợ ngắn hạn"

Một số ý kiến cho rằng, Ngân hàng Nhà nước đưa ra con số dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đến ngày 20/3/2009 là 151.903 tỷ đồng nhưng tại sao tốc độ tăng trưởng dư nợ trong toàn hệ thống không tăng tương ứng? Phải chăng con số này chưa chính xác?

Hiểu như vậy là sai lệch.

Số 17 nghìn tỷ đồng hỗ trợ lãi suất chỉ tác động vào dư nợ ngắn hạn là 630 nghìn tỷ đồng, chứ không tác động làm tăng trưởng dư nợ trong toàn hệ thống.

Năm 2009, khả năng tăng trưởng dư nợ tín dụng tối đa từ 21% - 23% so với 2008, đồng nghĩa với tăng 250 nghìn tỷ đồng. Nói như vậy để thấy rằng, một nền kinh tế mà tăng trưởng tín dụng đến mức năm, sáu trăm nghìn tỷ đồng trong một thời gian ngắn là quá nóng, dẫn đến lạm phát ngay lập tức và đó là điều hết sức vô lý.

Tóm lại, cùng với chính sách thuế, xúc tiến thương mại thì gói kích cầu 17 nghìn tỷ đồng nói trên chỉ tác động vào dư nợ ngắn hạn để giảm bớt khó khăn, hạ giá thành sản phẩm, duy trì sản xuất kinh doanh.