
Nhấn mạnh việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là vấn đề phá băng, mở màn, cốt lõi nhất của nền kinh tế, song, tại diễn đàn "Quản trị sự thay đổi và tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh toàn cầu hoá" cuối tuần qua, TS Nguyễn Đại Lai, chuyên gia tài chính - ngân hàng, thừa nhận, tiến độ cổ phần hoá chúng ta đã làm nhiều năm qua nhưng vẫn chậm chạp.
Chậm cổ phần hoá
Tính từ 1992 đến nay, số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm từ 12.000 xuống còn khoảng 600 doanh nghiệp. Nhưng chủ yếu là doanh nghiệp lớn, độc quyền, Nhà nước vẫn giữ khoảng 90% vốn điều lệ.
Theo kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì năm 2018 phải hoàn thành cổ phần hoá ít nhất 85 doanh nghiệp trong đó có 21 doanh nghiệp thuộc danh mục năm 2017 chuyển sang. Tuy nhiên, đến ngày 18/11/2018 mới cổ phần hoá được 12 doanh nghiệp, khả năng không đạt được theo kế hoạch là đã rõ.
Tương tự, năm 2018 có 181 doanh nghiệp phải thực hiện thoái vốn, nhưng đến nay mới chỉ có 31 đơn vị thoái vốn theo kế hoạch.
Tốc độ cổ phần hoá chậm dần, khó dần từ năm 2010 đến nay. Đặc biệt là ngày càng vướng phải những khó khăn mới do số doanh nghiệp nhà nước còn lại đều là những doanh nghiệp loại nhạy cảm, loại rất to, cỡ Tổng công ty, Tập đoàn, là các doanh nghiệp được đóng vai "chủ lực, chủ đạo" và từng được gọi là những "quả đấm thép" của Nhà nước.
Đối với những doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá trước đây cơ bản chỉ là những doanh nghiệp nhà nước thuộc cấp tỉnh, thành phố hay cấp bộ, ngành và là những doanh nghiệp loại nhỏ, vừa hoặc các cửa hàng mậu dịch quốc doanh bán hàng phân phối đã hết thời tồn tại...
TS. Nguyễn Đại Lai cho rằng, việc cổ phần hoá ở những doanh nghiệp này chủ yếu là phương pháp chia cổ phần cho người lao động và nhà nước theo thời gian công tác. Cổ phần hoá đơn giản là "biến hoá" doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần để Nhà nước cùng người lao động thu "tiền" về bằng cổ phần và cùng tồn tại.
Hậu cổ phần hoá không ai mất chức, mất việc và nếu rời doanh nghiệp trong độ tuổi lao động thì được Nhà nước "trả một cục" để đi tìm việc khác. Còn lực lượng lao động căn bản vẫn là những người cũ - vẫn vừa làm lãnh đạo, vừa làm thuê cho Nhà nước...
Tù mù quản trị doanh nghiệp hậu cổ phần hoá
Một vấn đề nữa được đặt ra tại diễn đàn là hậu cổ phần hoá, các doanh nghiệp sẽ được quan trị thế nào để giải phóng được sức ỳ và phát triển nguồn lực?
TS.Nguyễn Đại Lai cho rằng, vẫn còn rất tù mù cho các phương án tiền và hậu cổ phần hoá về tái cơ cấu, về công nghệ, thị trường; người lao động và đặc biệt là về kỹ nghệ quản trị doanh nghiệp cũng như sự được, mất của chúng ta sẽ ra sao sau cổ phần hoá những quả đấm thép này.
Theo số liệu của Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số vốn của Nhà nước bằng tiền và giá trị tài sản quy ra tiền đang nằm tại các doanh nghiệp mà Nhà nước có sở hữu từ 50% đến 100% vốn điều lệ là 5,4 triệu tỷ đồng, lớn hơn 126% GDP 2015 (4,256 triệu tỷ). Trong khi khu vực kinh tế Nhà nước chỉ tạo ra không nhiều hơn 30% GDP bình quân 5 năm qua.
Theo công bố chính thức của Tổng cục Thống kê, cơ cấu thành phần kinh tế làm ra GDP của Việt Nam năm 2015 là: Khu vực Nhà nước: 28,69%; Khu vực ngoài Nhà nước: 43,22%; Khu vực FDI: 18,07% Và thuế sản phẩm (trừ trợ cấp sản phẩm): 10,02%GDP. Cơ cấu này đến nay vẫn cơ bản không thay đổi đáng kể.
Còn TS.Cấn Văn Lực, chuyên gia tài chính - ngân hàng, khẳng định: Kỹ năng quản trị doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần đang bộc lộ điểm yếu cơ bản.
Hiện thế giới có hai cấp độ quản trị doanh nghiệp, một là không cần Ban kiểm soát và hai là có Ban kiểm soát nhưng kiểm soát độc lập, kiểm soát cả thành viên Hội đồng quản trị.
Các doanh nghiệp tại Việt Nam áp dụng hình thức thứ 2 nhưng Ban kiểm soát thuộc Hội đồng quản trị và không có nhiều quyền hạn và yếu kém năng lực kiểm soát nên dường như là tàng hình trong các vấn đề của doanh nghiệp Nhà nước.
"Các quyết sách vẫn nằm trong tay cổ đông lớn. Thậm chí quyền lực tập trung vào một người là chủ tịch Hội đồng quản trị. Tuy nhiên, thế giới đã chứng minh rằng điều này là sai bởi vì tập trung quá nhiều quyền và việc làm vào một người sẽ bỏ quên tầm nhìn, chỉ tập trung vào sự vụ, sự việc", ông Lực nói.
Sau hơn nửa tháng Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động và cho vay, mặt bằng lãi suất đã bắt đầu điều chỉnh. Tuy nhiên, mức giảm của lãi suất cho vay thực tế mới đạt 0,2–0,5%, thấp hơn mức giảm 1,5–2% đối với các khoản vay phục vụ sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên…
Trong tuần này, ngày 6/11/2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) sẽ tổ chức Diễn đàn Kinh tế thường niên lần thứ 12 – MB Economic Insights 2026 với chủ đề "Khơi thông nguồn vốn, thích ứng nhanh trước biến động" tại TP. HCM.
Sau nhiều năm đẩy mạnh số hóa quy trình, nghiệp vụ, các ngân hàng đang mở rộng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), hướng tới mô hình AI có thể tự thực hiện một số nhiệm vụ dưới sự giám sát của con người. Tuy nhiên, quá trình này đối mặt với 4 thách thức lớn: dữ liệu phân mảnh, quy trình rời rạc, năng lực kiểm soát hành động của AI và bảo đảm chủ quyền dữ liệu...
Trước áp lực CPI bình quân 10 tháng tăng 4,57%, cao hơn mục tiêu cả năm, Bộ Tài chính xác định 5 nhóm giải pháp trọng tâm để kiểm soát lạm phát những tháng cuối năm. Việc giảm thuế xăng và giá điện được kỳ vọng góp phần hạ CPI, giảm chi phí cho doanh nghiệp và người dân.
Từ nay tới năm 2031, GDP bình quân đầu người của những nền kinh tế giàu nhất thế giới được dự báo tiếp tục tăng lên. Tuy nhiên, mức tăng vượt trội tại các nước giàu tài nguyên năng lượng có thể làm thay đổi trật tự trên bảng xếp hạng...
Chuyển đổi xanh ngành lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ đòi hỏi giảm phát thải, nâng cao chất lượng hạt gạo mà còn phải bảo đảm sinh kế và phân chia lợi ích công bằng. Dự án GORICE hướng tới phát triển chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, đồng thời trao quyền cho phụ nữ, người dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế tham gia, hưởng lợi bình đẳng.
Trưa ngày 4/11, tại Họp báo Chính phủ thường kỳ, việc điều chỉnh thuế TTĐB đối với xăng về 0% và giảm giá bán lẻ điện 2% tác động như thế nào tới CPI; kịch bản điều hành giá để kiểm soát CPI theo mục tiêu hai tháng cuối năm... được Lãnh đạo Bộ Tài chính làm rõ.