
Ngày 9/12, tỷ giá chính thức tăng nhẹ 3 đồng trong khi tỷ giá tự do giảm sâu khiến chênh lệch giữa 2 thị trường tiếp tục thu hẹp còn khoảng 730 đồng mỗi USD.
Cụ thể, tại Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá trung tâm được điều chỉnh tăng nhẹ lên mức 25.155 VND/USD, cao hơn 3 đồng so với ngày 8/12. Theo đó, tỷ giá trần và tỷ giá sàn cũng tăng lần lượt lên 26.412 và 23.897 VND/USD. Tỷ giá mua vào và bán ra của Cục Quản lý ngoại hối tăng tương ứng, lần lượt ở mức 23.948 và 26.362 VND/USD.
Tỷ giá mua vào tại các ngân hàng thương mại phổ biến ở mức 26.142 VND/USD, bán ra ở 26.412 VND,và tỷ giá chuyển khoản là 26.172 VND/USD, mỗi loại tăng thêm 3 đồng so với ngày trước đó.
Ngược lại, tỷ giá USD trên thị trường tự do giảm đáng kể. Tỷ giá mua vào trên thị trường tự do giảm 100 đồng, từ 27.200 VND xuống 27.100 VND/USD, trong khi giá bán ra giảm xuống còn 27.150 VND/USD.
Diễn biến thị trường tiền tệ liên ngân hàng ngày 8/12 cho thấy lãi suất chào bình quân VND tăng nhẹ ở các kỳ hạn ngắn. Cụ thể, lãi suất kỳ hạn qua đêm (ON) và 1 tuần (1W) cùng tăng 0,1 điểm phần trăm (đpt), lên mức lần lượt là 7,5% và 7,6%/năm. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 2 tuần (2W) giữ nguyên ở 7,5%/năm, còn kỳ hạn 1 tháng (1M) giảm 0,05 đpt xuống còn 7,1%/năm.
Đối với USD, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng duy trì ổn định tại các kỳ hạn: qua đêm 3,93%/năm, 1 tuần 3,98%/năm, 2 tuần 4,01%/năm và 1 tháng 4,04%/năm.
Về nghiệp vụ thị trường mở, ngày 8/12, Ngân hàng Nhà nước chào thầu trên kênh cầm cố với tổng khối lượng 21.000 tỷ đồng ở 4 kỳ hạn, lãi suất đồng loạt ở mức 4,5%/năm. Kết quả, có 18.316,04 tỷ đồng được bơm ra thị trường.
Đồng thời, có 19.992,36 tỷ đồng đến hạn, khiến Ngân hàng Nhà nước hút ròng 1.676,32 tỷ đồng trong phiên. Tính đến cuối ngày 8/12, khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố đạt 364.206,09 tỷ đồng.
Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 27/11, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt trên 18,2 triệu tỷ đồng, ghi nhận mức tăng 16,56% so với cuối năm 2024.
So sánh theo cùng kỳ, mức tăng trưởng này cao hơn đáng kể so với mức tăng 11,47% trong 11 tháng đầu năm 2024 (so với cuối năm 2023). Thậm chí, mức tăng đến cuối tháng 11/2025 đã vượt cả tốc độ tăng trưởng tín dụng cả năm 2024, vốn đạt 15,09% so với cuối năm 2023.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa triển khai chương trình tín dụng ưu đãi với lãi suất cho vay chỉ từ 6,0%/năm (giảm tới 2,0%/năm so với mức lãi suất thông thường) tùy theo kỳ hạn và lĩnh vực vay vốn.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước khẩn trương triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay từ 1,5-2% đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp...
Giá vàng thế giới giảm nhẹ trong phiên giao dịch ngày thứ Sáu (16/10), hoàn tất một tuần đi xuống, dù tỷ giá đồng USD và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ cùng giảm...
Năm 2026 tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng: là năm đầu của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ba phần tư chặng đường của năm đã đi qua, nền kinh tế đạt những kết quả tích cực, song vẫn còn không ít vấn đề cần được giải quyết để hoàn thành các mục tiêu đề ra cho cả năm.
Hồi năm 2012, bản đồ nợ của châu Âu vẫn còn rất đơn giản: ở phía Bắc là nhóm các quốc gia cốt lõi với chi phí vay thấp, trong đó Đức đóng vai trò trung tâm, còn ở phía Nam là nhóm các quốc gia ngoại vi với nợ nần chồng chất...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Thực tế, sau 9 tháng năm 2026, dù kinh tế ghi nhận nhiều kết quả tích cực, chỉ có 12/34 tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng hai con số. Bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà còn là nâng cao năng lực thực thi và chuyển hóa nguồn lực thành giá trị thực chất.