Giữa những trăn trở về sinh kế nơi nông thôn, câu chuyện của ông Trần Thế Xanh trở thành minh chứng sống động cho sự mạnh dạn đổi thay. Sau những ngày rộn ràng của dịp Quốc khánh 2/9, tiết trời xứ Thanh đã bước sang thu. Ở thôn Mỹ Quang, người dân lại tất bật trên những luống riềng trải dài, ánh mắt rạng rỡ sau mùa vụ bội thu.
“Ngày xưa, làm mía vất vả mà chẳng dư dả. Giờ đây, trồng riềng, cuộc sống đã thay đổi hoàn toàn”, ông Trần Thế Xanh vừa dẫn tôi đi giữa những cánh đồng xanh mướt vừa nở nụ cười rạng rỡ. Nụ cười của người nông dân dám nghĩ, dám làm ấy như chứa đựng cả một hành trình dài đầy gian nan của sự tìm tòi và kiên trì, phản ánh rõ nét những nỗ lực không ngừng nghỉ để phát triển kinh tế bền vững.
"TRỒNG MÍA MƯỜI NĂM KHÔNG BẰNG TRỒNG RIỀNG MỘT VỤ”
Thăng Bình trước đây được xem là “vựa mía” của vùng Nông Cống. Bao đời nay, mía từng là nguồn sống chủ lực, là niềm tin để người dân bám đất, bám làng. Nhưng rồi thực tế ngày càng phũ phàng: chi phí đầu tư cao, thời tiết thất thường, giá thu mua lại lên xuống thất thường khiến nhiều hộ trắng tay.
Gia đình ông Xanh cũng không ngoại lệ. Hơn mười năm gắn bó với cây mía, ông thấm thía nỗi nhọc nhằn: một ha đất, biết bao công sức bỏ ra mà có năm thu chưa đầy 50 triệu đồng, thậm chí còn lỗ vốn. “Cả vụ mùa chỉ mong không bị lỗ, chứ mơ làm giàu thì xa vời lắm”, ông tâm sự.
Khi nhiều người vẫn cặm cụi bám lấy cây mía, ông Xanh đã quyết định đi tìm lối ra khác. Ông kể, chính những chuyến đi tìm hiểu, học hỏi từ các mô hình trồng rau gia vị ở miền Trung đã mở cho mình một hướng nghĩ mới. Ở đó, ông thấy người dân trồng riềng – một loại cây tưởng chỉ dùng để nấu giả cầy, kho cá nhưng lại mang đến hiệu quả kinh tế cao bất ngờ.
Khác với mía cần nhiều công chăm sóc, cây riềng lại dễ tính, ít sâu bệnh, không kén đất, hầu như chẳng phải tưới tắm cầu kỳ. Quan trọng hơn, nhu cầu thị trường lại rộng mở: từ gia vị trong bếp ăn, nguyên liệu dược liệu cho đến chế biến mỹ phẩm...
Tin vào trực giác của mình, ông Xanh mạnh dạn phá bỏ toàn bộ diện tích mía để chuyển sang trồng riềng. Ban đầu, không ít người cho rằng ông “dở hơi”, “làm chuyện khác người”. Nhưng chỉ sau một năm, sự hoài nghi ấy đã hóa thành ngỡ ngàng: từ 1 ha đất, ông thu về gần 70 tấn riềng, doanh thu lên tới 400 – 500 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận vẫn còn khoảng 300 triệu đồng, gấp nhiều lần so với trồng mía.
“Trồng mía mười năm không bằng trồng riềng một vụ”, ông cười, ví von bằng thứ ngôn ngữ mộc mạc của người nông dân.
HIỆU ỨNG LAN TỎA
Từ những thành công của mình, ông Xanh bắt đầu vận động bà con trong thôn chuyển đổi cây trồng. Ông cũng sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, cung cấp giống, thậm chí kết nối thương lái để bảo đảm đầu ra. Chỉ sau ít năm, từ chỗ lác đác vài hộ, phong trào trồng riềng đã lan rộng ra khắp Mỹ Quang và các thôn lân cận.
Anh Nguyễn Bá Quế – một trong những người đi theo mô hình sớm nhất, giờ đã có tới 2 ha riềng, sản lượng hơn 100 tấn/năm, thu lãi gần 700 triệu đồng. “Không những gia đình khá lên, mà tôi còn thuê thêm 3 – 4 lao động địa phương, trả lương 6 – 7 triệu đồng mỗi tháng. Vừa có người làm, vừa giúp bà con có việc ổn định”, anh chia sẻ.
Còn theo bà Mạch Thị Hồng thì “Cây riềng hợp đất, dễ trồng, đầu ra lại ổn định. Nhờ nó mà kinh tế gia đình tôi thay đổi hẳn. Tôi còn thuê thêm người thu hoạch, làm cỏ, cũng là góp phần tạo công ăn việc làm cho hàng xóm”. Bà nói, nếu được chính quyền hỗ trợ thêm về giống và kỹ thuật, bà sẽ mở rộng diện tích, khuyến khích nhiều hộ khác cùng tham gia để hình thành vùng nguyên liệu lớn.
Đi trên những cánh đồng riềng xanh mướt, cảm nhận rõ sức sống mới đang chảy tràn nơi đây. Người dân không còn những nỗi lo mất mùa, mất giá. Thay vào đó là sự chủ động, tự tin và niềm tin vào tương lai sáng sủa hơn.
Ngày trước, người ta gọi mía là “vàng trắng”. Giờ đây, với người Thăng Bình, cây riềng chẳng khác nào “vàng đỏ”. Thị trường tiêu thụ không chỉ dừng ở các công ty chế biến trong nước, mà còn mở rộng sang Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu.
Nhưng để cây riềng thực sự trở thành cây chủ lực, theo ông Xanh, cần có sự chung tay của chính quyền và doanh nghiệp. “Bà con thấy hiệu quả nhưng muốn đầu tư lâu dài cần phải có chuỗi liên kết. Nếu được quy hoạch vùng trồng, đào tạo kỹ thuật, xây dựng hợp tác xã và kết nối tiêu thụ, tôi tin riềng sẽ là cây xóa đói giảm nghèo bền vững”, ông bày tỏ.
Điều ấn tượng nhất không chỉ là lợi nhuận cao, mà còn là cách ông Xanh và bà con đang thay đổi tư duy sản xuất. Họ không còn “mạnh ai nấy làm”, mà bắt đầu nghĩ tới sản xuất theo chuỗi, theo vùng nguyên liệu, gắn với thị trường tiêu thụ. Đó chính là hướng đi mà nhiều địa phương đang tìm kiếm trên con đường xây dựng nông thôn mới nâng cao.
Buổi trưa ở Thăng Bình, nắng thu vàng rực trên những luống riềng, gió nhẹ mang hương thơm lan tỏa. Người nông dân lom khom thu hoạch, tiếng cười nói vang vọng trong không gian yên bình. Dưới ánh nắng, tôi cảm nhận sức sống mới của vùng quê đang đổi thay nhờ quyết định chuyển đổi táo bạo của ông Trần Thế Xanh và sự đồng lòng của bà con. Thăng Bình hôm nay không chỉ có vụ riềng trĩu củ mà còn niềm tin vào một tương lai no ấm, bền vững.
Từ con tàu “Lenin” của Liên Xô đến đội tàu phá băng hạt nhân thế hệ mới của Nga, những con tàu này không chỉ mở đường xuyên qua lớp băng dày ở Bắc Cực mà còn trở thành một phần quan trọng trong chiến lược phát triển Tuyến đường biển phương Bắc (NSR). Với khả năng duy trì hoạt động dài ngày trong điều kiện khắc nghiệt, đội tàu góp phần bảo đảm vận chuyển dầu khí, khoáng sản và hàng hóa, đồng thời tạo nền tảng hạ tầng cho phát triển kinh tế, năng lượng và logistics tại Bắc Cực…
Thay vì chỉ phát triển các khu công nghiệp mới theo tiêu chí xanh, TP. Đồng Nai đang đặt ra lộ trình chuyển hóa những khu công nghiệp đã hình thành sang mô hình xanh, sinh thái. Từ sản xuất sạch hơn, cộng sinh công nghiệp đến sử dụng năng lượng hiệu quả và kiểm kê khí nhà kính, quá trình này đang được cụ thể hóa bằng một loạt kế hoạch trong năm 2026.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất 18 lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ mà người có chức vụ, quyền hạn trong lĩnh vực đó sau khi thôi giữ chức vụ không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã, tăng 5 lĩnh vực so với quy định hiện hành...
Việt Nam đang nghiên cứu phát triển các trung tâm công nghiệp - dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng điện gió, điện mặt trời và thúc đẩy hình thành chuỗi cung ứng công nghiệp xanh trong nước. Với vai trò kết nối sản xuất điện, chế tạo thiết bị, hạ tầng cảng biển, logistics và đào tạo nhân lực, mô hình này được kỳ vọng tạo động lực mới cho chuyển dịch năng lượng và công nghiệp xanh...
Từng phổ biến trong những khu vườn thời Xô viết nhưng dần bị các giống mận phù hợp hơn với sản xuất công nghiệp thay thế, Mirabelle đang trở lại tại nhiều khu vườn ở Nga. Câu chuyện về một giống cây có quả nhỏ, mềm, khó vận chuyển nhưng giàu hương vị không chỉ cho thấy sự thay đổi trong thị hiếu tiêu dùng, mà còn gợi mở cách nhìn mới về bảo tồn nguồn gen, chế biến tại chỗ và phát triển nông nghiệp xanh...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập bình quân ngay trong tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%.